'Ông mụ' sò huyết - Nông Thôn Việt

'Ông mụ' sò huyết

Thứ Hai, 02/03/2020, 08:31 [GMT+7]

Ở xã Đất Mũi huyện Ngọc Hiển tận cùng của đất nước có ông y sĩ chuyên “khám thai”, chọn giới tính và quyết định cho sinh sản mỗi năm 5 tấn sò huyết bố mẹ (sò tuyển chọn từ tự nhiên để cho sinh sản nhân tạo). Ông là một trong hai thành viên bộ phận kỹ thuật của “tập đoàn” sản xuất sò giống duy nhất ở Việt Nam. Hai năm qua, đơn vị này đã đưa ra thị trường hàng ngàn tấn sò giống thương phẩm để nuôi lấy thịt. Người Việt đã và sẽ được ăn sò huyết Việt, chất lượng Việt, không còn phải nhập con giống ngoại.

 

 

Ông Đặng Thanh Liêm ngày đêm rong ruổi khắp nơi vì con sò giống
Ông Đặng Thanh Liêm ngày đêm rong ruổi khắp nơi vì con sò giống.

Thiên nhiên cạn, nhân chưa tạo được

Những năm gần đây người sành ăn hải sản thường thắc mắc tại sao con sò huyết nhỏ hẳn đi dù giá sò ngày càng tăng. Thắc mắc của người dùng là nỗi lo của giới nuôi sò. Nguồn sò huyết tự nhiên ở Việt Nam đã cạn kiệt từ nhiều năm qua. Những thử nghiệm nuôi đẻ nhân tạo đều không thành công. Các nhà đầu tư nuôi sò buộc phải nhập sò giống từ Đài Loan với chi phí cao dù kích thước, trọng lượng sò Đài Loan nói riêng và Trung Quốc nói chung đều nhỏ hơn sò Việt.

Từ các trại nuôi sò lớn đến người nuôi nhỏ lẻ đều trăn trở trước câu hỏi làm sao để nuôi, ương sò giống Việt Nam thành công. Anh Đặng Thanh Liêm - y sĩ trạm y tế xã Đất Mũi, một người sinh ra và lớn lên trên đất bãi bồi Cà Mau, thừa hưởng sự tinh tế, tính sáng tạo, yêu thích việc nuôi các loài nhuyễn thể của người mẹ, nằm trong số đó.

Theo gương mẹ, anh Liêm vừa đọc sách báo, tài liệu vừa tự thử nghiệm. Sau nhiều thất bại, anh Liêm rút ra được phương pháp cho sò huyết đẻ nhân tạo rất đơn giản. Anh chọn ra các con sò đã có trứng lớn, phơi trong nắng hoặc dưới ánh sáng đèn điện một thời gian để cho sò bị khô khát nước. Sau đó bỏ sò vào hồ ương, cho nước biển vào. Sò gặp nước hả miệng uống nước theo bản năng, ngay chính lúc ấy trứng sò sẽ được phóng thích, trứng sò chảy ra thành một vệt trắng đục mà mắt thường có thể nhìn thấy được.

Nhưng sau đó anh lại gặp chuyện hết sức oái oăm. Khi cho sò đẻ, anh lại “thu” thêm nghêu, hào, sò điệp. Nếu không khắc phục được tình trạng này thì không thể sản xuất được. Cuối cùng, anh Liêm đã tìm ra nguyên nhân ở vỏ con sò. Trứng của các loài ngoại lai bám vào vỏ sò, nên gặp môi trường thích hợp nó cùng nở với sò con. Từ bài học này, nguồn sò bố mẹ trước khi đưa vào sinh sản phải được làm sạch vỏ, trắng như bông.

Giải được bài toán cho sò huyết đẻ, thuần chủng, nhưng bài toán về phương pháp ương để tỉ lệ sò con thương phẩm sống được cao, đạt hiệu quả kinh tế lại hoàn toàn bế tắc. Một con sò đẻ được 6 triệu trứng nhưng sau một tháng, trứng thành sò con đáp xuống đáy hồ chỉ còn vài ba chục con. Bế tắc này không riêng của anh Liêm mà ngay các đại gia là chủ trại nuôi sò lớn ở Vũng Tàu cũng gặp. Cuối cùng, các đại gia đã hùn vốn nhau hơn 6 tỉ đồng để đầu tư mua công nghệ ương trứng sò của Đài Loan. Quả nhiên, theo công nghệ này, tỉ lệ sò con hao hụt rất thấp, người làm giống còn hoàn toàn có thể chủ động về tỷ lệ sò đẻ trong số 6 triệu trứng của mỗi con sò.

Thành công về quy trình, công nghệ nhưng còn một vấn đề khác là môi trường. Cà Mau là môi trường tốt nhất cho sò huyết phát triển. Không riêng anh Liêm mà các đại gia cũng muốn đặt trại ương tại Cà Mau nhưng lại thất bại. Khi trứng sò tương đối lớn, đến giai đoạn bơm nước sống (nước biển tự nhiên) vào hồ ương thì sò bị chết rất nhiều. Kết quả thử nghiệm ở nhiều địa phương khác như Trà Vinh, Bến Tre, Cần Giờ (TP.HCM) cho thấy tỉ lệ chết khác nhau, trong đó Vũng Tàu đạt tỉ lệ sống tối ưu.

Sau những thử nghiệm này, các đại gia chủ trại đã kết hợp nhau thành “tập đoàn” ương sò, cơ sở chính đặt tại Vũng Tàu gồm 5 trại nuôi ương. Bộ phận kỹ thuật của “tập đoàn”- nơi nắm bí quyết công nghệ và điều hành quy trình sản xuất gồm 2 người, được hưởng 30% lợi nhuận. Một người tổ chức điều hành ương nuôi tại Vũng Tàu, còn anh Liêm đóng đô tại Cà Mau, trực tiếp chọn mua và tổ chức vận chuyển sò giống bố mẹ về bản doanh.

Bà con khá lên, mình cũng vui!

Từ năm 2017 đến nay, “tập đoàn” là đơn vị duy nhất của Việt Nam sản xuất được sò giống thương phẩm Việt Nam và cung cấp cho các trại nuôi cả nước. Việc nhập sò giống, thuê chuyên gia Đài Loan cũng đã chấm dứt. Nếu tính theo thời gian tăng trưởng của sò huyết từ khi đẻ trứng đến khi khai thác thịt là 2 năm thì bắt đầu từ năm tới, năm 2020, con sò thịt của “ông mụ Liêm” sẽ được đưa ra thị trường. Thực khách sẽ gặp lại những con sò Việt to mập không còn phải phiền lòng với những con “sò se sẻ”.

Khai thác sò trên hồ
Khai thác sò trên hồ.

Vì sao công việc của hai người mà được các đại gia cho hưởng đến 30% lợi nhuận? Anh Liêm cười hiền lành: “Cái đó là từ thực tiễn. Hiện nay cung không đủ cầu, ương ra bao nhiêu cũng không đủ. Chúng tôi là nguồn cung cấp con giống duy nhất nên không có cạnh tranh. Mấy ổng tin tôi có lẽ là từ kết quả thực tế của tôi, những kinh nghiệm, thành công và thất bại của tôi”.

Công việc của anh Liêm đòi hỏi phải đánh giá, lựa chọn chính xác tỉ lệ lên giống của đàn sò bố mẹ và tính toán được số sò sẽ đẻ cho từng lô hàng. Phải ghi nhận chính xác điều kiện môi trường, độ mặn, hàm lượng phù sa của vùng nước mỗi đàn sò… Tất cả những công việc ấy phải làm bằng tim óc, sự nhạy cảm, kinh nghiệm của mình mà hầu như không có phương tiện hỗ trợ nào. Phương tiện duy nhất mà anh đang sử dụng là bút đo độ mặn.

Về thực lực, “tập đoàn” của anh hiện có 5 trại nuôi ở Vũng Tàu, 2 trại ở Bến Tre, 3 trại ở Cần Giờ (TP.HCM). Bình quân mỗi năm anh phải tuyển chọn và cung ứng cho tập đoàn 5 tấn sò bố mẹ. Đó là khối lượng và chất lượng công việc hoàn toàn không đơn giản. Ngôi nhà sàn ven sông của anh luôn trống toác không cần cửa nẻo, còn bản thân anh thì rong ruổi trên xe, võ lãi (còn gọi là tác ran, một loại xuồng thân thon dài ở miền Tây) đi khắp cùng đồng đất, bãi bồi để tìm các bà sò đang bụng mang dạ chửa. Số lượng sò bố mẹ từ tự nhiên hiện nay không nhiều, không được bỏ phí, nên phải tính thật sát chứ không vì an toàn của mình mà o ép người bán.

Hỏi về hiệu quả của người nuôi sò thương phẩm, anh Liêm chân thành nói: “Cũng vô chừng lắm, chuyện chim trời cá nước đâu có gì chắc chắn. Nhưng có thể đưa ra bài toán bình quân để dễ hình dung. Với 1 ao, hồ nuôi diện tích 150m2, thả 1kg sò giống, sau hai năm nếu đạt tỉ lệ sống bình quân và trọng lượng 50 con/kg với thời giá hiện nay là 200.000 đồng/kg thì có thể thu được khoảng 120 triệu đồng. Đó là khoản thu nhập cao nhất ở nông thôn mà các nghề lúa, muối, chăn nuôi gia súc không thể có được. Chỉ sợ ông trời, chứ sò huyết thường chỉ lên giá chứ chưa bao giờ sụt. Nghĩ tới chuyện bà con khá lên bụng mình cũng vui”.

LÊ ĐẠI ANH KIỆT

;
.
.
.
.