Cự Đà một thời vang bóng - Nông Thôn Việt

Cự Đà một thời vang bóng

Thứ Sáu, 06/07/2018, 15:25 [GMT+7]

Nằm bên cạnh sông Nhuệ một thời xanh trong, tưới tắm cho cả một vùng nông thôn trù phú, làng Cự Đà (xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội) chỉ cách trung tâm thủ đô Hà Nội hơn 20km, nhưng là một “địa chỉ đỏ” cho những ai yêu thích du lịch, đam mê tìm hiểu về kiến trúc, lịch sử, văn hóa.

NHỮNG MẢNH VỠ TUYỆT ĐẸP CỦA QUÁ KHỨ

Làng Cự Đà cổ là tên gọi của một trong ba thôn (Khúc Thủy, Khe Tang, Cự Đà), đều thuộc xã Cự Khê. Trong ba thôn của xã thì Cự Đà là thôn “cao niên” nhất, khoảng 400-500 năm tuổi. Làng cổ được quy hoạch ngăn nắp, trật tự theo kiểu “xương cá”. Bước qua chiếc cổng làng rêu phong – nơi từng có chiếc đồng hồ trên đỉnh như một “biểu tượng thương hiệu” khá đặc biệt – là đường trục chính chạy song song với sông Nhuệ.

Cổng xóm Lễ Nghĩa
Cổng xóm Lễ Nghĩa

Từ đó tỏa ra hàng chục con ngõ nhỏ dẫn vào các xóm với những cái tên gợi nhớ nét văn hóa truyền thống như xóm Lễ Nghĩa, xóm Hiếu Đễ… Mỗi xóm đều có cổng riêng kiên cố. Trước xóm Con Cóc còn có trụ đá với một “cụ” Thiềm Thừ chễm chệ phía trên.

Nghe nói trước đây bến sông Nhuệ là nơi buôn bán tấp nập, dân làng Cự Đà dựng hai cây cột, bên trên đặt cóc đá đội đèn để thuyền bè biết lối mà cập bến. Năm tháng trôi, vật đổi sao dời, nay chỉ còn nguyên vẹn một trụ đá.

Đường đi trong làng được lát gạch nghiêng, các xóm đều có cổng xóm với cửa gỗ kiên cố. Trải qua năm tháng, làng vẫn còn giữ được hơn 50 ngôi nhà có giá trị kiến trúc cao. Hầu hết là kiểu nhà 5 gian 2 chái hoặc 3 gian 2 chái, dựng bằng gỗ, lợp ngói mũi hài, cửa bức bàn; rường, cột có hoa văn chạm khắc tinh xảo.

Điểm đặc biệt là có những ngôi nhà hai tầng, mang phong cách biệt thự Pháp, nhưng lại vẫn phảng phất hơi hướng nhà cổ Việt. Chủ nhân nhiều ngôi nhà đã “ly nông”, lên phố làm ăn từ rất sớm, nhiều người trong số họ là những nhà buôn nổi tiếng đất kinh kỳ. Thành đạt rồi, họ về quê xây nhà dựng cửa làm chỗ họp họ, nghỉ ngơi.

Ngôi nhà theo kiến trúc cổ của gia đình ông Trịnh Thế Sùng có tuổi đời lên đến 130 năm và đã qua 4 thế hệ sinh sống, nhưng vẫn còn khá nguyên vẹn, chỉ đảo ngói, khoảng 10 năm một lần. Nhà chủ yếu làm bằng gỗ xoan, 5 gian, 2 dĩ.

Cũng có ngôi nhà như của gia đình ông Nguyễn Văn Bảo, một ngôi biệt thự kiểu Pháp hai tầng đã tồn tại hơn 100 năm, có ban công, sân nhỏ, xây dựng bằng những vật liệu mua từ Pháp về như gạch, đá hoa, thép… Chẳng thế mà, ông Bảo cho hay, ngôi nhà ông từng được mượn làm bối cảnh cho nhiều phim truyền hình; du khách nước ngoài cũng thường tới tham quan.

Cùng với thời gian, với những nhu cầu ngày càng đa dạng của cuộc sống hiện đại, nhiều báu vật đã mất đi hoặc không còn nguyên vẹn. Bà Nguyễn Thị Hoà ở xóm Ba Giang chỉ cho tôi xem hai con nghê sứ đặt trên cột cao và bức khảm cá chép trên bức tường cũ rêu phong, ẩn khuất sau dàn mướp hoa vàng: “Có người đã trả tiền trăm triệu để mua, nhưng tôi không bán.

Nhưng bây giờ sau khi nhà hàng xóm xây cao tầng lên thì cũng chỉ nhìn thấy rõ một con nghê thôi. Con trai và con dâu tôi cũng muốn bỏ hết đi để xây mới cái nhà, nhưng tôi nói khi nào vợ chồng tôi khuất núi hẵng làm. Giờ, còn chút kỷ niệm của gia đình, phải giữ”.'

HUYỀN SỬ LÀNG

Theo các cụ cao niên, người làng Cự Đà tháo vát, giỏi buôn bán nên nhiều cự phú. Cự Đà, vì thế, không chỉ thu hút nhiều khách thập phương, mà bọn trộm cắp cũng thường xuyên dòm ngó, hoành hành. Để đối phó, trai tráng khoẻ mạnh trong làng được tổ chức thành đội, đêm đêm canh phòng cẩn mật. Tuy thế, huyền sử làng kể lại rằng, làng từng có hai “nội gián” ghê gớm.

Cảnh phơi miến dong ở làng Cự Đà
Cảnh phơi miến dong ở làng Cự Đà

Sau một vài vụ cướp lớn thành công, việc bại lộ. Dù bị dân làng khảo gắt gao, cả hai đều nhất quyết không chịu thừa nhận. Mãi đến khi bị dọa khảo đến vợ con thì một người mới thú tội. Sau, ông này mang cả gia đình đi biệt tích. Người kia tắm rửa sạch sẽ, mặc bộ đồ tươm tất nhất, ăn bữa cơm, uống chén rượu độc rồi lên sập ngủ một giấc thiên thu… Dù có lầm lỗi, nhưng ít nhiều bản lĩnh của họ cũng khiến người nghe chuyện có phần nể trọng.

Ngày nay, Cự Đà vẫn là một làng quê có mức sống khá giả, nhờ giữ nghề làm miến dong truyền thống. Miến Cự Đà đều tăm tắp, hoặc trắng ngà, hoặc vàng óng (được nhuộm bằng caramen), khi nấu lên giòn dai, không nát, nhờ được làm từ củ dong riềng, không pha phách.

Một phần bột được ngâm với nước sôi để làm “bột chín”. Bột chín mang hòa với bột đã lọc, được tráng thành bánh, hấp chín và đem phơi nắng. Se mặt, “bánh miến” được cán thành sợi miến nhỏ, dài và tiếp tục đem phơi cho thật khô.

Những ngày nắng đẹp, các bãi cỏ, con đường trong làng nhuộm màu vàng óng với tầng tầng lớp lớp những tấm phên phơi miến. Dòng xe cải tiến, xe thồ, xe máy nhộn nhịp đưa miến đi bán khắp nơi.

Cự Đà còn một đặc sản nữa là tương – thứ nước chấm truyền thống trên mâm cơm của người dân vùng đồng bằng Bắc bộ. Đậu rán, rau muống luộc chấm tương hay cà muối dầm tương, chỉ thế là đủ “đánh bay” vài bát cơm mới.

Nhà có cỗ thì đĩa bê thui chấm tương gừng cùng cút rượu trắng nút lá chuối… Những chum tương vàng nâu sóng sánh dưới trời nắng to, được cô thôn nữ nhẹ nhàng khuấy đều, thoảng mùi thơm thanh đạm, tự dưng gợi nhớ cửa thiền…

Nhưng dù vậy, nghề làm miến, làm tương có lẽ chỉ giúp người làng có chút của ăn của để chứ khó thành nghiệp lớn. Dòng Nhuệ Giang đang héo mòn bởi rác, nước thải, không còn cảnh trên bến dưới thuyền ngày nào. Thời của những cự phú chưa biết bao giờ mới trở lại.

 

Mặc dù đã có những thế mạnh để phát triển kinh tế và du lịch, làng cổ Cự Đà vẫn đang rất cần một cách nghĩ, cách làm táo bạo để có thể tìm được lối đi riêng bền vững.

Cẩm Hà

 
 
 

 

;
.
.
.