Áo dài trong dòng chảy lịch sử - văn hoá Huế - Nông Thôn Việt

Áo dài trong dòng chảy lịch sử - văn hoá Huế

Thứ Năm, 06/02/2020, 08:09 [GMT+7]

Trong muôn vàn nét đẹp đặc sắc của vùng đất Cố đô Huế, không thể không nhắc đến hình ảnh các thiếu nữ duyên dáng trong tà áo dài truyền thống trên những cây cầu và con phố hoặc thướt tha bên những thành quách, đền đài, lăng tẩm.

 

Thiếu nữ duyên dáng trong tà áo dài truyền thống trên cầu Tràng Tiền. Ảnh: VGP/Thế Phong
Thiếu nữ duyên dáng trong tà áo dài truyền thống trên cầu Tràng Tiền. Ảnh: VGP/Thế Phong

TS. Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hoá-Thể thao tỉnh Thừa Thiên-Huế đã có những chia sẻ thú vị với Báo điện tử Chính phủ nhân dịp Xuân Canh Tý 2020 về quá trình hình thành và nét đẹp tà áo dài trong dòng chảy văn hoá vùng đất Cố đô.

Theo TS. Phan Thanh Hải, người đã từng là Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, không thể không nhắc đến hình ảnh các thiếu nữ duyên dáng trong tà áo dài truyền thống trên những cây cầu và con phố hoặc thướt tha bên những thành quách, đền đài, lăng tẩm.

Áo dài đã trở thành niềm tự hào, một biểu tượng của xứ Huế mộng mơ, khơi nguồn cảm hứng sáng tác bất tận của biết bao thi nhân, nghệ sĩ. Trải qua nhiều thăng trầm của thời gian và lịch sử, áo dài xứ Huế vẫn mang trong mình những tinh hoa, tâm hồn, tính cách của con người xứ Huế và cả những câu chuyện thú vị về văn hóa lịch sử vùng đất này.

Vài nét chấm phá lịch sử qua thư tịch xưa

Theo TS. Phan Thanh Hải, chưa một ai hoặc công trình nghiên cứu nào khẳng định chắc chắn được thời điểm áo dài Huế xuất hiện. Tuy nhiên, qua các nguồn sử liệu, đặc biệt trong giai đoạn vương triều Nguyễn, hoặc hồi ký của những người phương Tây đã từng đặt chân đến Huế, chúng ta cảm nhận được phần nào về sự hình thành và phát triển của áo dài Huế.

Một giáo sĩ dòng Tên người Italy là Cristophoro Borri, sống ở vùng Thuận Hóa và Quảng Nam từ năm 1618-1622 đã viết khá rõ về cách ăn mặc của người phụ nữ vào đầu thế kỷ XVII như sau: “Bắt đầu từ phái nữ, phải nhận rằng cách ăn mặc của họ tôi vẫn coi là giản dị hơn khắp cõi Ấn Độ, vì họ không để lộ một phần nào trong thân thể, ngay cả trong những mùa nóng bức nhất. Họ mặc tới năm hay sáu váy lụa trơn, cái nọ chồng lên cái kia và tất cả có màu sắc khác nhau.

Cái thứ nhất phủ dài xuống chấm đất, họ kéo lê rất trịnh trọng, khéo léo và uy nghiêm đến nỗi không trông thấy đầu ngón chân. Sau đó là cái thứ hai ngắn hơn cái thứ nhất chừng bốn hay năm đối ngón tay, rồi tới cái thứ ba ngắn hơn cái thứ hai và cứ thế trong số còn lại theo tỉ lệ cái nọ ngắn hơn cái kia, để cho các màu sắc đầu được phô bày trong sự khác biệt của mỗi tấm. Còn trên thân mình thì họ khoác vắt chéo như bàn cờ với nhiều màu sắc khác nhau, phủ lên trên tất cả một tấm voan rất mịn và mỏng cho người ta nhìn qua thấy tất cả màu sặc sỡ chẳng khác mùa Xuân vui tươi và duyên dáng, nhưng cũng không kém trịnh trọng và giản dị”.

Thật ra mấy lớp áo cắt thành các dải dài mà Borri nhắc đến là xiêm cánh sen, hay xiêm y. Xiêm này có 3-4 lớp dải lụa may chồng lên nhau. Lớp dải trong cùng dài nhất, rồi các lớp bên ngoài ngắn dần. Từ trang phục này đến chiếc áo dài Huế như hiện nay là một hành trình dài trong việc sáng tạo của người dân xứ Huế.

Một trong những dấu mốc quan trọng của văn hoá trang phục áo dài Huế phải đề cập đến là vào năm 1744, sau khi lên ngôi Vương ở Phú Xuân, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã ban hành nhiều chính sách và đề cập đến việc sửa đổi y phục. Sách Đại Nam thực lục, phần Tiền biên do Quốc Sử quán triều Nguyễn biên soạn có đoạn chép: “Chúa cho rằng lời sấm có nói: Tám đời trở lại trung đô, bèn đổi y phục, thay phong tục, cùng dân đổi mới; châm chước chế độ các đời, định triều phục văn võ (văn từ chức Quản bộ đến Chiêm hậu, Huấn đạo; võ từ Chưởng dinh đến Cai đội, mũ sức vàng bạc, áo dùng mãng bào hoặc gấm đoạn, theo cấp bực). Thế là văn vật một phen đổi mới”.

Trình diễn áo dài tại Festival Huế. Ảnh: VGP/Thế Phong
Trình diễn áo dài tại Festival Huế. Ảnh: VGP/Thế Phong

Sang triều Nguyễn (1802-1945), triều đình muốn thống nhất y phục hai miền khởi từ vua Gia Long (nối tiếp việc sửa đổi của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), rồi đến các vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị..., nhưng ngại sự tốn kém khó khăn của dân chúng còn nghèo, không buộc phải gấp rút tuân hành. Quốc Sử quán triều Nguyễn chép vào năm Minh Mạng thứ 8 (1827), nhà vua xuống dụ: “Nhà nước ta cõi đất hợp một, chính trị, phong tục há nên có khác? Tháng trước các trấn thần lần lượt xin đổi áo mặc cho sĩ dân, đã từng theo như lời xin. Nay các hạt ở Bắc thành cũng nên kịp thời sửa đổi lại để cho được đồng nhất. Nhưng thay đổi phong tục, là việc mới bắt đầu làm, mà dân gian nghèo giàu không đều, về sự nhu cầu mặc, tất nên rộng hạn cho ngày tháng. Vậy thiết tha xuống dụ này: Các ngươi đại thần nên sức khắp cho sĩ dân trong hạt phàm cách thức áo mặc đổi theo cách thức Quảng Bình trở vào Nam, chuẩn cho đến cuối mùa xuân năm Minh Mạng thứ 10, nhất tề sửa đổi lại, để nêu ý nghĩa vâng theo phép vua”.

Sau khi dụ của vua Minh Mạng được tuyên cáo toàn dân, dân tình xôn xao, phản ứng bằng 4 câu ca: “Tháng tám có chiếu vua ra. Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng. Không đi thì chợ không đông. Đi thì bóc lột quần chồng sao đang?”. Nhưng dù sao thì hành động của vua Minh Mạng đã tạo cơ hội cho phụ nữ Huế nói riêng và phụ nữ Việt Nam được mặc áo dài thường xuyên và đi vào nề nếp trong đời sống hằng ngày. Từ đó, áo dài lan tỏa ra khắp cả nước.

Nét duyên dáng riêng có của mảnh đất Thần kinh

TS. Phan Thanh Hải khẳng định, áo dài xứ Huế đã đi qua một chặng đường dài hình thành và phát triển với nhiều thăng trầm, từ chiếc áo dài xứ Bắc xưa xẻ giữa thân trước thành hai vạt không có khuy, đến chiếc áo dài Đàng trong với vạt được xẻ thành tà áo. Áo dài Huế hình thành từ chính tâm hồn và nét thẩm mỹ của người Huế, mang trên đó những nét duyên dáng riêng có của mảnh đất Thần kinh. Có lẽ cũng kể từ đó, phụ nữ Huế luôn coi áo dài như một trang phục thường ngày, chứ không chỉ dùng trong những dịp lễ, Tết hay sự kiện đặc biệt nào đó và tùy theo điều kiện kinh tế mà ai cũng có vài bộ áo dài.

Chiếc áo dài Huế được thêu may tinh tế và sắc sảo bởi đôi bàn tay khéo léo của con người xứ Huế, từ lâu đã trở thành một món quà lưu niệm văn hóa, tinh thần độc đáo không thể thiếu cho những ai đến Huế.

TS. Lê Văn Hảo với nhiều năm nghiên cứu lịch sử văn hoá Triều Nguyễn và Huế từng lý giải rằng: “Chiếc áo dài Việt Nam vừa trang trọng, kín đáo, vừa có giá trị thẩm mỹ tạo hình độc đáo làm nổi bật vẻ đẹp ngoại hình của người mặc. Còn chiếc áo dài Huế, do dáng đi khoan thai, dáng đứng ngồi đoan trang của người phụ nữ Huế, càng trở nên mềm mại uyển chuyển duyên dáng. Đây là kiểu áo dài không phết gót mà không ngắn đến đầu gối, cổ cao vừa phải, eo áo cũng thắt đáy lưng ong vừa phải. Vải hay lụa dùng màu tuyền trắng hay tuyền đen, hoặc những màu nhẹ như xanh lơ, hồng nhạt, vàng mơ, tím phớt, xám nhạt, có khi được điểm xuyết bằng vài đóa hoa, chiếc lá hay hình chữ cách điệu thêu bằng chỉ màu nhạt hay đậm hơn màu áo một chút. Chiếc áo dài màu trắng hay màu nhạt nhẹ ấy đi với chiếc quần trắng và chiếc nón bài thơ. Đó là cách trang phục thích hợp nhất với thiên nhiên phong cảnh và dáng dấp con người Huế”.

Ngày nay, việc mặc áo dài đã phổ biến trở lại ở vùng đất Cố đô. Ảnh: VGP/Thế Phong
Ngày nay, việc mặc áo dài đã phổ biến trở lại ở vùng đất Cố đô. Ảnh: VGP/Thế Phong

Sản phẩm du lịch độc đáo

Đi khắp nẻo đường xứ Huế, chúng ta thường xuyên gặp hình ảnh các mệ, các cô, các chị thướt tha, duyên dáng trong tà áo dài. Áo dài không chỉ tôn lên nét kín đáo, thùy mị, làm toát lên thần thái của người phụ nữ Huế, mà còn rất hợp với khung cảnh cổ kính, yên bình, nhẹ nhàng, lãng mạn của xứ kinh kỳ. Chính vì lẽ đó, áo dài Huế được tôn vinh trong các kỳ lễ hội lớn nhỏ và đã trở thành nét văn hóa đặc trưng riêng của miền núi Ngự, sông Hương.

Trong các kỳ festival Huế, không thể không nhắc đến lễ hội áo dài - một trong những chương trình chính thức, mang đậm chất văn hóa Huế, đã góp phần làm phong phú và đa dạng chương trình lễ hội cũng như sự thành công của sự kiện. Đến với lễ hội áo dài, du khách sẽ được chiêm ngưỡng các bộ sưu tập áo dài của các nhà thiết kế nổi tiếng. Ở đó, tà áo dài của người phụ nữ Huế nói riêng và áo dài Việt Nam nói chung được biến hóa qua bàn tay tài năng của người nghệ sĩ để trở thành những bộ sưu tập mang dáng vẻ cổ kính đến hiện đại trên các chất liệu vô cùng phong phú và đa dạng.

Nổi bật là bộ sưu tập “Trở lại thiên đường” của Nhà thiết kế Minh Hạnh tại Festival Huế 2004 được thể hiện bằng màu sắc của nghệ thuật Pháp Lam đã làm nổi bật nét đẹp kiêu kỳ và sang trọng vốn có của người con gái Huế kết hợp độc đáo với cảm giác xưa cũ trên nền rêu phong của đền đài lăng tẩm. Năm 2016, với chủ đề “Màu thời gian”, 10 nhà thiết kế nổi tiếng như Hoài Sang với cảm hứng từ gốm men lam, Anh Vũ là những hoa văn trên cửu đỉnh, Việt Hà với hoa mai cách điệu trên gốm kỷ hà, Hồng Dung với những họa tiết trên các bông gió gốm, Thương Huyền là ấn tượng sen... đã đưa ra trình diễn hơn 300 bộ áo dài với những chủ đề rất riêng, ghi lại những hình ảnh tinh túy nhất của cố đô Huế…

Trong festival Huế 2018, lễ hội áo dài với chủ đề “Huế vàng son” là sự hòa quyện, gắn kết văn hóa, đưa khán giả quay ngược thời gian để tìm về lịch sử hình thành và phát triển của tà áo dài Việt Nam nói chung và tà áo dài truyền thống Huế nói riêng. Các nghệ sĩ đã sáng tạo ra những bộ sưu tập áo dài được ví như tác phẩm hội họa đầy màu sắc, làm nổi bật văn hóa truyền thống Huế, đậm chất cung đình qua các thời kỳ.

Hiện nay, áo dài Huế đã trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo, tạo nét duyên dáng và kín khiến bất cứ ai ngắm nhìn cũng phải nao lòng. Những chiếc áo dài được cắt may, thêu thùa tinh tế và sắc sảo bởi đôi tay tài hoa của người thợ xứ Huế đã để lại bao ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách trong và ngoài nước, góp phần bảo tồn và phát huy một nét văn hóa đặc sắc, quý giá của dân tộc.

Qua áo dài, văn hóa Huế được quảng bá rộng rãi và hiệu quả đến với du khách trong nước và quốc tế, đồng thời, tôn vinh nét đẹp dịu dàng của người mang trên mình chiếc áo dài Huế.

Theo THẾ PHONG (baochinhphu.vn)

;
.
.
.
.