Dòng chảy gốm sứ Bình Dương - Nông Thôn Việt

Dòng chảy gốm sứ Bình Dương

Thứ Năm, 20/02/2020, 08:25 [GMT+7]

Nghề gốm sứ được ghi nhận đã có tại vùng đất Bình Dương từ hàng ngàn năm trước, qua việc khai quật hàng loạt di tích khảo cổ ở cù lao Rùa, Mỹ Lộc, Dốc Chùa, Phú Chánh… có niên đại cách nay từ 2.000 năm - 3.500 năm. Đến giữa thế kỷ XIX, gốm sứ Bình Dương với danh xưng gốm Lái Thiêu đã theo những thương thuyền đi khắp lục tỉnh Nam kỳ và sang tận Campuchia. Những trung tâm gốm sứ thời cực thịnh có thể kể đến như tân Phước Khánh (thị xã Tân Uyên), Lái Thiêu (thị xã Thuận An), Phú Cường, Chánh Nghĩa (thành phố Thủ Dầu Một)...

 

Hội tụ

Từ giữa thế kỷ 19, đất Bình Dương đã xuất hiện các lò gốm trải dài từ Lái Thiêu, Búng, Thủ Dầu Một đến Tân Uyên. Chủ lò đều là người Hoa phần đông đến từ các lò gốm thuộc vùng Cây Mai, Sài Gòn - Chợ Lớn xưa về lập nghiệp, hình thành nên ba phong cách gốm gắn với cộng đồng người Hoa thuộc vùng Quảng Đông, Phước Kiến, Triều Châu (Tiều)… Gốm thành phẩm từ các lò dồn về Lái Thiêu, nơi có cảng Bà Lụa và theo con đường sông nước đi khắp vùng Nam bộ, lan ra các vùng phụ cận, sang cả Campuchia, Lào và các nước Đông Nam Á khác như Indonesia, Malaysia, Philippines… Do vậy, dân gian định danh chung các dòng gốm sản xuất ở đất Bình Dương xưa, khi tập trung về cảng Bà Lụa, đều được gọi là gốm Lái Thiêu.

Chiều chiều mượn ngựa ông đô,

Mượn ba chú lính đưa cô tôi về.

Đưa về chợ Thủ: bán hũ, bán ve,

Bán bộ đồ chè, bán cối đâm tiêu.

Câu ca dao xưa phổ biến ở vùng đất Thủ Dầu Một cho thấy khi các nghề thủ công đã phát triển (nghề làm hũ, làm ve, nghề chạm, tiện gỗ, ấm chén trà, cối giã tiêu…) thì các cô, các bà phải đem về chợ Thủ Dầu Một để bán. Chợ này tức chợ Phú Cường, còn gọi là Dầu Miệt/ Dầu Một bên lị sở của huyện Bình An “xe cộ, ghe thuyền tấp nập đông đảo” như sách Đại Nam nhất thống chí đã ghi nhận.

Các công trình nghiên cứu gần đây qua điều tra hồi cố đã xác định người Hoa đã đưa nghề gốm đến vùng đất này vào những thập niên cuối thế kỷ 19. Đến năm 1910, theo cuốn sách Monographie de la province de Thudaumot (Chuyên khảo về tỉnh Thủ Dầu Một), cả tỉnh đã có đến 40 lò gốm: 5 lò ở An Thạnh, 8 lò ở Hưng Định, một lò ở Tân Thới (Lái Thiêu), 14 lò ở Phú Cường, 3 lò ở Bình Chuẩn và 9 lò ở Tân Khánh. Lái Thiêu bấy giờ đã thành trung tâm thương mại thạnh mậu, được đặt làm thương chính Lái Thiêu bên cạnh thương chính Thủ Dầu Một và kế đó là chợ Búng khá sầm uất. Các lò gốm quan trọng đặt ở đây cũng như các sản phẩm gốm đều lấy nơi này làm nơi buôn bán, bởi tiện cho việc vận tải đường sông và đường bộ: có bến đậu tàu thủy và bến xe đò. Có lẽ ở giai đoạn này, tên gọi gốm Lái Thiêu được định danh để chỉ chung cho tất cả các sản phẩm gốm được sản xuất ở tỉnh này. Sản phẩm gốm bấy giờ bao gồm hầu hết đồ gia dụng, đặc biệt hũ đựng đường, chén đựng mủ cao su được sản xuất ngày càng nhiều để đáp ứng nhu cầu của sự phát triển các lò đường thủ công và các đồn điền cao su. Ngoài các sản phẩm gốm thực dụng, ở đây cũng đã sản xuất đồ gốm mỹ thuật thường gọi là đồ gốm Cây Mai, tuy sản phẩm ở đây có kém hơn sản phẩm Cây Mai chính hiệu được sản xuất ở vùng Cây Mai (Phú Lâm, Phú Định, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay).

Đến năm 1992, ở thị xã Thủ Dầu Một có 65 cơ sở sản xuất gốm sứ, huyện Thuận An có 153 cơ sở, huyện Tân Uyên có 85 cơ sở.

Đa dạng sản phẩm

Ban đầu, gốm Lái Thiêu sử dụng men truyền thống gọi là “nhiễu xùy”, gồm tro và vôi giã nhuyễn với hồ. Tỉ lệ thông thường là 10 thùng trấu và hai thùng vôi giã nhỏ rồi pha với nước hồ lỏng. Về sau các chủ lò phát kiến thêm loại men “vũ xùy”. Năm 1960, ông Nguyễn Thành Lễ (chủ xưởng Thành Lễ) và ông Lý Văn Tường (chủ xưởng Thạch Dụng) đã nghiên cứu chế tạo được những loại men mới, có chất lượng cao hơn men truyền thống. Các loại men này được gọi là men Thành Lễ, men Thạch Dụng, có màu xanh, xanh rêu, xanh ánh bạc, đen bạc, nâu… nhanh chóng được các lò gốm ở đây và cả vùng Nam bộ sử dụng rộng rãi. Đến năm 1971, ông Lý Ngọc Minh và ông Dương Văn Long đã chế tạo thành công loại men chảy nung bằng củi. Cho đến những năm cuối thế kỷ 20, các lò gốm ở Bình Dương sử dụng men tràng thạch có thành phần đá non (permatit), đất sét, đá vôi, cát, oxyd kẽm.

Gốm Lái Thiêu truyền thống chủ yếu là nhúng men độc sắc lên cốt gốm rồi vẽ các họa tiết, đồ án trang trí bằng men màu. Cách trang trí cũng rất phong phú: vẽ trực tiếp lên cốt gốm rồi phủ lên đó một lớp men trong và đem nung – gọi là “màu dưới men”; vẽ lên lớp áo của lớp men mờ đục rồi đem nung – gọi là “màu trên men”; vẽ tô màu sắc lên sản phẩm gốm đã nung và đem nung lần thứ hai – gọi là “men hấp nhẹ độ”. Các màu sắc dùng vào việc trang trí trên gốm luôn được gia thêm các chất gây chảy, keo tragacanh hoặc 1% CMC hay glycerin để dễ tô vẽ và men không bị bong tróc. Men màu của gốm Lái Thiêu khởi điểm từ màu lục, lam, vàng da bò, da lươn, đen độc sắc rồi càng ngày càng phong phú. Để sản xuất đồ gốm giả cổ thì dùng men màu rêu, xám xanh, đen tuyền. Để tạo nên vẻ tươi sáng rực rỡ thì dùng các loại men màu sáng.

Lò nung của gốm Lái Thiêu là lò ống và lò bao (lò bầu), ban đầu đốt bằng củi, nay có thêm gas, dầu, điện.

Những năm 50 – 60 của thế kỷ 20 là thời cực thịnh của gốm Lái Thiêu, với các dòng sản phẩm từ gia dụng đến cao cấp được giới tiêu dùng phương Nam ưa chuộng.

Nhìn lại các dòng gốm Lái Thiêu xưa có thể thấy nổi bật lên một số dòng gốm chính gồm: gốm Quảng Đông với những hiệu lò quen thuộc như Quảng Hòa Xương, Thái Xương Hòa, Hưng Lợi, Quảng Hiệp Hưng… với lối tráng men độc sắc (toàn sản phẩm chỉ phủ một màu men) có các màu dễ nhận như xanh lam, xanh lục, nâu… các sản phẩm tập trung nhiều vào đồ ngoại thất, như đôn, chậu kiểng, chóe, khạp… đặt tại chùa chiền hoặc các tư gia có diện tích rộng. Gốm Phước Kiến lại nhắm đến dòng sản phẩm bình dân, sử dụng thường nhật như tỉn, hũ đựng chao, vịm, sanh, ơ, nồi… cũng với lối tráng men độc sắc gồm hai màu chủ đạo là da lươn và nâu. Đến gốm Triều Châu, hay còn gọi là gốm Tiều với các sản phẩm mang tính mỹ thuật từ tạo hình đến lối thể hiện đề tài bằng nét vẽ đạt đỉnh cao. Các tên lò nổi tiếng của gốm Tiều có Duyệt An, Vinh Phát, Đào Xương, Thành An… sử dụng các màu men xanh trắng (thanh hoa), tam thái, ngũ thái…

Điểm dễ nhận các dòng gốm Lái Thiêu là hầu hết đều do người Hoa chế tác, từ kỹ thuật tạo hình, nét vẽ, đề tài thể hiện - chủ yếu là các phong cách, điển cố, tích truyện Trung Hoa. Vào thời cực thịnh, Bình Dương có đến hơn 500 lò sản xuất gốm phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Tăng trưởng hơn 10%/năm

Ở mỗi giai đoạn nghề gốm và sản phẩm gốm đều mang trên mình những dấu ấn lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và sự sáng tạo của đất và người Bình Dương. “Thời vàng son” của gốm Bình Dương có thể kể đến đầu những năm 1960, Bình Dương nổi tiếng với thương hiệu Thành Lễ mang phong cách mỹ thuật hiện đại, tiệm cận với nghệ thuật toàn cầu, đã chinh phục được những thị trường khó tính như Pháp, Mỹ, Đức… Sự sáng tạo và đột phá của phong cách Thành Lễ đã giúp gốm sứ Bình Dương vươn mình ra thế giới.

Vào cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, gốm sứ Bình Dương bước vào thời kỳ công nghiệp hiện đại, đổi mới công nghệ - kỹ thuật, mở rộng thị trường tiêu thụ quốc tế, nổi bật là gốm sứ Minh Long đại điện cho dòng sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ cao cấp được người tiêu dùng trong và ngoài nước đặc biệt yêu thích.

Toàn tỉnh Bình Dương hiện có gần 300 cơ sở sản xuất gốm sứ, mỗi năm cung cấp ra thị trường từ 130 triệu đến 150 triệu sản phẩm các loại.

Ông Lý Ngọc Bạch, Chủ tịch Hiệp hội Gốm sứ Bình Dương, cho biết gốm sứ Bình Dương đa dạng về mẫu mã, chủng loại, màu sắc, giàu tính nghệ thuật. Từ các sản phẩm gia dụng như lu, khạp, chén, dĩa, bình hoa, bình trà… đến các loại gốm sứ mỹ nghệ như hình các loại thú dùng trang trí trong nhà, các loại trang sức dùng làm quà lưu niệm đều được khách hàng đánh giá cao về mẫu mã, chủng loại, chất lượng. Gốm sứ đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh, với những thương hiệu nổi tiếng như Minh Long, Cường Phát, Phước Dũ Long… Đây là lợi thế rất lớn của ngành gốm sứ Bình Dương.

Những năm gần đây, gốm sứ Bình Dương luôn giữ mức tăng trưởng ổn định từ 10%/năm trở lên. Ngành gốm sứ vẫn nằm trong top 20 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh. Hiện nay, ngành gốm sứ của Bình Dương đạt giá trị xuất khẩu khoảng 200 triệu USD/năm, doanh thu trên thị trường nội địa khoảng 70 triệu USD/năm. Điều các doanh nghiệp gốm sứ cần làm hiện nay chính là nắm bắt kịp thời thị hiếu tiêu dùng, đa dạng mẫu mã, chuyển đổi công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm để phát triển ổn định, lâu dài trong thời gian tới.

Theo số liệu thống kê, trong năm 2018, thị trường Đông Nam Á chiếm khoảng 24% giá trị xuất khẩu gốm sứ của Việt Nam, tiếp đến là thị trường Mỹ 20%, Liên minh châu Âu hơn 16%, Nhật 16%.

 

ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG

Theo số liệu thống kê, trong năm 2018, thị trường Đông Nam Á chiếm khoảng 24% giá trị xuất khẩu gốm sứ của Việt Nam, tiếp đến là thị trường Mỹ 20%, Liên minh châu Âu hơn 16%, Nhật 16%.

;
.
.
.
.