Lòng tựa gấm, miệng tựa thêu - Nông Thôn Việt

Lòng tựa gấm, miệng tựa thêu

Thứ Hai, 23/03/2020, 09:50 [GMT+7]

Là người con làng Quất Động, huyện Thường Tín, ông Lê Công Hành đã làm rạng danh vùng đất này khi được tôn là tổ nghề thêu của nước ta. Đến nay, gần như mọi làng nghề có nghề thêu truyền thống của người Việt đều tôn vinh ông Lê Công Hành là tổ nghề.

 

Ông tổ nghề thêu Lê Công Hành.
Ông tổ nghề thêu Lê Công Hành.

Từ nổi tiếng hay chữ

Những bằng chứng khảo cổ tìm được đã cho thấy, nghề dệt vải ở Việt Nam đã có từ khoảng 6.000 năm trước đây. Nhưng dấu vải thực sự chỉ mới thấy phổ biến in trên đồ đồng thau Đông Sơn, cách đây 2.500 năm.

Lịch sử thì ghi nhận thời Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán những năm 40, nghề thêu đã được nhắc đến qua lá cờ thêu lời hịch “Đền nợ nước, trả thù nhà”.

Đến thời nhà Lý ở thế kỷ 11, sử sách nhắc đến nguyên phi Ỷ Lan đã dạy nghề thêu thùa cho các cung nữ và bà Trần Thị Dung, vợ thái sư Trần Thủ Độ, dạy cho dân làng ở làng Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình cách nuôi tằm, dệt vải, thêu thùa.

Tuy vậy, chỉ đến thời Lê sử sách mới ghi rõ về một người được tôn làm tổ nghề thêu là ông Lê Công Hành (1606 - 1661). Theo bản thần phả của họ Bùi Trần ở thôn Quất Động (xã Quất Động, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội) thì Lê Công Hành vốn người họ Mạc. Sau cuộc nổi loạn giành ngôi của Mạc Chính Trung (năm 1546), để tránh mọi phiền nhiễu khi nhà Lê khôi phục triều chính ở Thăng Long (năm 1952), con cháu của họ Mạc từng về lánh nạn ở Quất Động đã đổi sang họ Trần là họ ngoại. Ông Lê Công Hành lúc trẻ tên là Trần Quốc Khải, sinh ngày 18 tháng giêng năm Bính Ngọ (1606), có thời làm con nuôi họ Bùi nên cũng có tên là Bùi Quốc Khải.

Chuyện kể rằng hồi còn nhỏ, cậu bé Khải rất ham học. Cậu học cả khi đốn củi, lúc kéo vó tôm. Tối đến, nhà không có đèn, cậu bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng lấy ánh sáng đọc sách. Khải học đến đâu thuộc đến đấy và nổi tiếng hay chữ một vùng. Năm 18 tuổi, thanh niên trai tráng trong làng đều bị lý dịch bắt đi phu đắp đê sông Hồng. Vì sức yếu không vác nổi những hòn đất to, Khải bị phạt, phải chôn chân ở mặt đê từ sáng đến trưa. Giữa lúc đó, viên quan coi đê đi qua thấy một thanh niên mặt mũi khôi ngô, lấy làm lạ nên dừng chân hỏi. Biết được Khải là học trò, bị phạt vì không vác nặng được, viên quan yêu chữ nghĩa liền ra một vế đối, và hứa Khải đối được thì sẽ tha cho. Vế đối của viên quan “Ông quan thị, cắm đường cái tiêu, trị hồng thủy, cho dân được cậy” khá oái oăm, có tên bốn thứ quả gồm thị, chuối tiêu, hồng và cậy. Nhưng không chút nao núng, Khải ứng khẩu đối lại ngay: “Trai Quất Động, thi đỗ bảng nhãn, phù quân vương, phỉ chí mới cam”. Vế đối lại cũng đủ bốn thứ quả là quýt, nhãn, bồ quân và cam, đã khiến viên quan gật đầu khen ngợi, cho Khải về. Từ đấy, Khải càng nổi tiếng hay chữ.

Năm 1637, đời vua Lê Thần Tông, Trần Quốc Khải thi đỗ tiến sĩ, được bổ nhiệm làm quan trong triều. Năm Bính Tuất (1646), Trần Quốc Khải được cử đi sứ nhà Minh. Sau khi hoàn thành công việc ngoại giao, vua Minh muốn thử tài trí của sứ thần, bèn sai dựng một cái lầu cao chót vót rồi mời ông lên chơi. Trần Quốc Khải vừa lên tới nơi, quân Minh ở dưới đất cất thang đi. Ở trên lầu suốt một ngày, ông chẳng thấy ai đem cơm nước đến. Nhìn kỹ xung quanh, ông chỉ thấy có cái bàn thờ, ngay phía trước là hai cái lọng xanh, đỏ trông rất đẹp, trên cao treo bức nghi môn diềm màn thêu rồng phượng và ba chữ “Phật tại tâm”. Ông Phật Di Lặc, bụng to, sơn đen được đặt giữa bệ thờ. Dưới chân bệ, một cái chum to đựng nước cúng và trong góc dựng hai cây tre, một con dao. Không có thức ăn gì cả.

Bụng đói cồn cào, ông Khải quay ra ngắm nghía bức tượng, ông lấy móng tay cạy vào lưng tượng để xem tượng làm bằng gì, thì thấy bật ra một mảng con, lấy tay bóp vụn ra được như bột. Ông đưa lên miệng nhấm thử thì thấy ngọt, hóa ra tượng nặn bằng chè lam. Từ đó ngày hai bữa, ông cứ bẻ dần tượng Phật mà ăn.

Ngồi không buồn quá, Trần Quốc Khải bèn chẻ tre, vót nan, quan sát kỹ cách làm lọng và nhập tâm các chi tiết. Khi đã biết cách làm lọng rồi, ông lại hạ bức trướng xuống, tháo các đường chỉ kim tuyến xem cách thêu, rồi lại dùng chỉ đó thêu lại. Lúc hoàn tất, ông ngắm nghía thấy đường thêu giống hệt như cũ.

Ăn hết pho tượng và uống hết chum nước, Trần Quốc Khải tìm cách xuống. Buổi chiều ngồi ngắm trời mây, thấy những con dơi xòe cánh chao đi chao lại như chiếc lá, ông “à” lên một tiếng rồi ôm lọng nhảy xuống đất bình an vô sự. Trước tài trí ứng xử linh hoạt của sứ thần Đại Việt, vua quan nhà Minh vô cùng kính phục, bày tiệc lớn tiễn đưa sứ đoàn về nước. Về đến triều đình, nhà vua nghe kể lại tài trí và ứng xử ngoại giao khôn ngoan của Trần Quốc Khải nên đã vui mừng khen thưởng, thăng ông lên chức Công bộ thượng thư thái bảo, ban quốc tính. Từ đó ông có tên là Lê Công Hành.

Nghề thêu huyện Thường Tín xưa trên một tấm bưu thiếp.
Nghề thêu huyện Thường Tín xưa trên một tấm bưu thiếp.

Đến ông tổ nghề thêu

Xong việc triều chính, Lê Công Hành về ngay quê nhà đem nghề thêu và cách làm lọng dạy cho dân xã Quất Động, sau đó truyền ra các xã Hương Giai, Vũ Lăng, Tam Xá, Hướng Dương của tổng Vũ Du, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông rồi lan sang các tỉnh lân cận. Một số tài liệu cho rằng nghề thêu và làm lọng là những nghề đã tồn tại ở nước ta từ trước khi ông Lê Công Hành truyền dạy, tuy nhiên chỉ phát triển nhỏ lẻ, kỹ thuật khá đơn sơ, quanh quẩn với vài màu chỉ và chủ yếu phục vụ cho tầng lớp vua quan.

Tiến sĩ Lê Công Hành mất ngày 12 tháng sáu năm Tân Sửu (1661) thọ 56 tuổi. Nhân dân năm xã ở tổng Vũ Du, huyện Thường Tín dựng đền thờ ở làng Nguyên Bì (còn gọi là đền Ngũ Xã), tôn ông làm tổ nghề thêu. Ngày 12 tháng 6 âm lịch hàng năm, nhằm ngày mất của ông, thợ thêu các nơi nô nức kéo về đền thờ làm lễ tế tổ.

Trong dòng người thập phương đổ về kinh kỳ Thăng Long làm ăn buôn bán, tạo ra những phố nghề, có rất nhiều thợ thêu làng nghề Quất Động. Ban đầu, họ tập trung ở thôn Tự Tháp (cuối phố Hàng Trống bây giờ) để sinh sống, làm và bán những sản phẩm thêu. Sau nhiều năm, mọi người dần quen gọi đoạn phố người Quất Động đến sinh sống và làm ăn ấy là phố Hàng Thêu. Phố Hàng Thêu khi ấy chỉ khoảng 40m, nhưng mức sầm uất thì chẳng kém cạnh những con phố phát triển bậc nhất khác của Thăng Long. Hàng thêu bày bán không chỉ phục vụ cho các bậc quan lại, chức sắc, mà còn có rất nhiều mẫu mã phục vụ các nghi lễ truyền thống, đồ thờ cúng hoặc các y môn cho các đình, chùa. Các mặt hàng cũng không chỉ xuất hiện tại phố Hàng Thêu, mà nhiều con phố khác cạnh đó như phố Hàng Nón, Hàng Mành, Hàng Chỉ… cũng bày bán sản phẩm do người thợ thêu làm ra.

Từ những người thợ thêu đầu tiên của làng nghề Quất Động, nhiều người Hà Nội và người từ các địa phương khác đến Hà Nội sinh sống cũng đã học nghề thêu. Từ đó mà nghề thêu lan dần khắp Thăng Long. Sống sung túc bằng nghề, những người thợ thêu làng Quất Động ở Thăng Long đã quyên góp tiền để xây dựng tú thị đình (đình thợ thêu) vào đầu thế kỷ XIX ở làng Ngũ Xã (nay là số 2A, phố Yên Thái, phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội) để thờ tổ nghề. Tôn vinh công đức của ông tổ nghề, người đời sau khắc ghi thành đôi câu đối lưu trước cửa đền: “Hoa quốc văn chương, Bắc sứ lưu niên truyền vĩ tích. Giáo dân cẩm tú, Nam thiên trung cổ khởi sùng từ”. Tạm dịch: “Tài trí rạng non sông, sứ Bắc năm xưa lưu truyền công vĩ đại. Thêu thùa dạy dân chúng, trời Nam nay xây dựng chốn phụng thờ”.

Tại lễ tế tổ nghề, sau các nghi lễ thông thường, chủ lễ đọc bài văn cúng tổ sư. Lời văn cũng thể hiện tấm lòng tôn kính của thợ đối với ngài tổ sư: “Tiên sinh tài cao xuất chúng, trí vượt tiên tri, là vầng trăng sáng Nam triều, là ngôi sao lành đất Bắc. Lòng tựa gấm, miệng tựa thêu, đã lấy văn chương soi sáng đời thạnh trị, mũi kim, sợi chỉ lại truyền tinh xảo đến phương Nam. Tài khéo sáng tỏ, ngắm sao Bắc Đẩu, Thái Sơn. Có công thì thờ tự, dù dâu biển cũng chẳng hề quên. Gặp lúc xuân tiết, kính dâng lễ mọn, nguyện soi xét lòng son, ban cho ơn phúc lớn. Kính mong thượng hưởng”.

ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG

;
.
.
.
.