Ông tổ nghề dệt chiếu - Nông Thôn Việt

Ông tổ nghề dệt chiếu

Chủ Nhật, 10/05/2020, 08:55 [GMT+7]

Hàng năm, vào đầu xuân, du khách gần xa lại tìm về đình Quan Trạng tại xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để thắp hương và tưởng nhớ Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ. Ông là người mà dân gian kính mến và nhớ ơn thường gọi là Trạng Chiếu vì đã có công với nghề dệt chiếu Hới Thái Bình nói riêng và nghề dệt chiếu Việt nói chung.

 

 

Tuổi thơ lạc mẹ

Phạm Ðôn Lễ (1457 - ?) sinh ra trong một gia đình nghèo khó, mẹ là người làng Hải Triều (nay là xã Tân Lễ, Hưng Hà, Thái Bình), bố mất khi ông còn rất nhỏ.

Theo truyền thuyết và tư liệu điền dã thì khi Phạm Ðôn Lễ 3 tuổi, trong một lần dạo chơi trên bờ sông Luộc ở làng Hải Triều, cậu bé bị lạc và được một người giàu có quê Thanh Hóa đón lên thuyền đưa về nuôi dưỡng. Vốn thông minh nên cậu bé họ Phạm học một biết mười, giỏi hơn những người bạn cùng trang lứa. Thầy dạy học rất yêu quý tài học của ông nên dốc lòng truyền dạy vì tin rằng trong tương lai cậu học trò này sẽ làm lên nghiệp lớn.

Vào năm Tân Sửu niên hiệu Hồng Ðức 12 - triều vua Lê Thánh Tông, triều đình mở khoa thi, Phạm Ðôn Lễ ứng thí và đỗ trạng nguyên. Ông cũng đỗ đầu cả kỳ thi Hương, thi Hội nên được coi là vị Tam nguyên đầu tiên của lịch sử khoa bảng Việt Nam. Ông làm quan đến Tả thị lang, Thượng thư. Sau khi ông thi đỗ, cha nuôi đã kể cho ông biết về thân thế của mình, và ông quyết tâm quay về quê hương để tìm người thân.

Trong vai khách bộ hành, Phạm Ðôn Lễ về bến đò Cà bên bờ sông Luộc, vào nghỉ chân tại một quán nước xiêu vẹo bên bờ sông. Lân la hỏi chuyện chủ quán là một bà cụ già tóc bạc phơ, quan Trạng mới biết đã 30 năm nay, bà cụ ngày ngày vừa bán hàng nước vừa ngóng tin đứa con trai bị thất lạc năm lên ba tuổi, với niềm hy vọng người con trai nếu còn sống chắc chắn sẽ tìm về với mẹ. Trạng liền hỏi: “Cụ còn nhớ con trai cụ có đặc điểm gì nổi bật không”? Cụ già nói trong nước mắt: “Ở giữa gan bàn chân trái của con trai tôi có nốt ruồi đỏ như son”. Biết đây chính là người mẹ đáng thương của mình, quan Trạng ôm chầm lấy mẹ: “Thưa mẹ, con chính là đứa con trai bị thất lạc của mẹ 30 năm về trước…”

Trạng chiếu

Năm Giáp Thìn (1484), Phạm Đôn Lễ vâng mệnh vua đi sứ nước Minh. Khi qua vùng Quế Lâm (Quảng Tây) ông chuyên chú khảo sát nghề dệt chiếu ở đây, học bí quyết dệt chiếu theo kỹ thuật dệt khung nằm, có ngựa đỡ sợi dọc, làm cho sợi đay căng, chao cói nhanh hơn, năng suất cao hơn, chiếu lại đẹp.

Lúc bấy giờ làng Hải Triều và những vùng lân cận đã có nghề dệt chiếu từ lâu đời, nhưng chỉ dệt bằng khung đứng, vừa chậm, chiếu lại không đẹp. Khi về nước, ông đã truyền lại cho dân làng cách dệt, cách nhuộm cói. Ông còn cải tiến khung dệt chiếu thấp xuống, lại làm thêm ngựa đỡ đay ở trên khung, giúp cho sợi dây thêm căng, đồng thời dùng nêm tre để nêm chèn ở phần cuối khung chiếu, giúp cho sợi đay trên khung không bị chùng xuống. Từ đó, làng Hới làm được các sản phẩm chiếu đậu, chiếu cải, chiếu hoa… nổi tiếng, khắp nơi mọi người đều hâm mộ, ưa dùng. Nhờ vậy đời sống của người dân trở nên sung túc.

Sau này, dưới thời vua Lê Uy Mục, khi bọn tham quan nhũng nhiễu triều chính, Phạm Đôn Lễ cương trực đã xin từ quan, đưa vợ con về quê cha ở làng Mỹ Xá (xã Ngọc Sơn, Tứ Kỳ, Hải Dương), dạy học kiếm sống và tuyền nghề dệt chiếu cho người dân địa phương. Khi ông mất, dân làng Hải Triều đã dâng tấu lên triều đình, xin lập đền thờ. Hàng năm vào ngày mất của ông (06 tháng Giêng), người dân đều tổ chức lễ hội để tưởng nhớ. Tại đền hiện còn lưu giữ các đạo sắc phong, nhiều câu đối ca ngợi công lao của trạng nguyên Phạm Ðôn Lễ với nghề chiếu.

 

Đền thờ Phạm Đôn Lễ ở thôn Hải Triều, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Đền thờ Phạm Đôn Lễ ở thôn Hải Triều, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Hàng năm, vào đầu xuân, du khách gần xa lại tìm về đình Quan Trạng tại xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để thắp hương và tưởng nhớ Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ. Ông là người mà dân gian kính mến và nhớ ơn thường gọi là Trạng Chiếu vì đã có công với nghề dệt chiếu Hới Thái Bình nói riêng và nghề dệt chiếu Việt nói chung.

NHẬT MINH sưu tầm

;
.
.
.
.