Công phu nghề làm nón lá Huế - Nông Thôn Việt

Công phu nghề làm nón lá Huế

Thứ Hai, 29/06/2020, 17:16 [GMT+7]

Mặc dù nón lá không chỉ riêng có ở huế, nhưng khi nhắc đến nón lá, người ta mặc định đó là một trong những biểu trưng của vẻ đẹp mảnh đất và con người xứ Huế. có lẽ do hàng trăm năm nay, vùng đất cố đô đã nổi tiếng với nghề chằm nón thủ công truyền thống.

Một cơ sở làm nón Huế. Ảnh: Trần Như Đăng Tuyên.
Một cơ sở làm nón Huế. Ảnh: Trần Như Đăng Tuyên.

Khác biệt với những chiếc nón lá bền, chắc và khá dày của những vùng miền khác, nón lá Huế có sự thanh mảnh, tinh tế như chính con người và vùng đất cố đô. Và sự khác biệt của những chiếc nón “mỏng như tờ giấy, nhẹ nhàng hơn cánh nhạn” ấy, chính là do chất liệu làm ra nó.

Những nghệ nhân lâu năm trong nghề cho biết, nón ở miền Bắc và một số tỉnh thành miền Trung thường được làm từ các loại lá kè nam, lá giang, còn nguyên liệu lá để làm nón ở Huế chính là lá nón, được cung cấp từ các huyện miền núi A Lưới, Nam Đông, Hương Trà. So với lá nón được dùng làm nón ở các tỉnh thành lân cận như Quảng Trị, Quảng Bình, thì lá nón để làm nón ở Huế cũng khác. Nón Huế dùng búp lá non chưa xòe ra, lá còn màu trắng, chưa chuyển qua màu xanh, lá bẹ to, mỏng, mềm, dài trên 40cm. Còn lá nón Quảng Trị có khác biệt nhỏ đó là lá bẹ nhỏ, cứng, lá già hơn, màu vàng.

Theo bà Chế Thị Nhơn, năm nay 55 tuổi, có thâm niên 40 năm theo nghề chằm nón ở Huế thì để làm ra chiếc nón lá công phu lắm, phải trải qua khoảng 15 công đoạn và mất rất nhiều thời gian. Từ lên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây lá, độn vành, chằm nón, cắt lá, nức vành, cắt chỉ... Chị Nguyễn Thị Thanh (cơ sở sản xuất Nguyễn Thị Kiệm, làng nghề nón Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế) cho biết thêm: “Chỉ riêng việc sơ chế lá thôi đã rất nhiêu khê, nào là đạp lá, sấy lá, ủ lá... Trong đó, ủi lá là công đoạn khó nhất, đòi hỏi phải đúng kỹ thuật, không phải thợ làm nón nào cũng làm được. Công đoạn này đòi hỏi nhiệt độ vừa đủ (tầm 40 – 42oC) để không làm cháy lá, người không có kinh nghiệm canh nhiệt thì màu sắc, chất lượng lá sẽ không đều”. Chị Thanh phải dùng loại vải cotton trơn chịu nhiệt cao búi lại thành nùi để ủi lá trên những miếng gang nung nóng bằng than củi. Đây là loại than thẻ được làm từ vỏ cây, điều này là bắt buộc, bởi loại than từ thân cây thường cho nhiệt độ rất cao, khó kiểm soát.

Xây lá. Ảnh: Trần Như Đăng Tuyên.
Xây lá. Ảnh: Trần Như Đăng Tuyên.

Lá nón sau khi được ủi phẳng phiu, lựa chọn cẩn thận, sẽ được thợ “xây” thành từng chùm, thông thường khoảng 10 lá/chùm. Sau đó, họ đặt chùm lá lên cái khung chằm nón có vành được bắt sẵn, mỗi chiếc nón có 16 vành nón nhỏ dần tạo thành hình chóp. Nón sẽ được chằm bằng sợi cước màu trắng. Theo những nghệ nhân lành nghề của làng nón Huế thì tay nghề của người thợ chằm nón thể hiện ở khâu này, mũi kim càng đều nhau càng chứng tỏ người thợ lành nghề. Sau khi chằm những mũi kim cuối cùng, người thợ chằm nón sẽ tháo nón ra khỏi khung, bắt đầu công đoạn nức vành và đột đầu, hoàn thiện sản phẩm.

Chị Nguyễn Thị Kiệm, một nghệ nhân chằm nón nổi tiếng của làng nghề nón Thủy Thanh cho biết, đối với nón bài thơ - một sản phẩm đã trở thành thương hiệu độc đáo của nón lá Huế, người thợ chằm nón sẽ thêm một hai công đoạn nữa. Đó là cắt giấy (thường là màu tím Huế) với những hình ảnh danh lam, thắng cảnh xứ Huế như chùa Thiên Mụ, Đại Nội Huế, cầu Trường Tiền… sau đó đưa mẫu này vào giữa 2 lớp lá nón. Nón bài thơ đòi hỏi người thợ phải có kỹ thuật điêu luyện, sự kiên nhẫn và cảm quan mỹ thuật tốt. Chiếc nón bài thơ khi đưa lên ánh sáng mặt trời hình ảnh hiện ra sắc nét, đường kim đều đặn, vân lá hài hòa với họa tiết của giấy là đạt yêu cầu.

Để giữ cho lớp lá được bóng, mượt, giữ được lâu, nón sẽ được phủ một lớp sơn bóng. Đây là kỹ thuật chế tác có thể nói là tương đối khác biệt so với nón lá của các địa phương khác, ngoài sự khác biệt về chất liệu lá làm nên loại nón lá đặc trưng xứ Huế này. Những khác biệt ấy, phải chăng đã góp phần không nhỏ để chiếc nón lá Huế đi vào thi ca, nhạc họa: Trở lại Huế thương bài thơ khắc trong chiếc nón, em cầm trên tay ra đứng bờ sông. Sông Hương nước chảy thuyền trôi lững lờ, em trao nón đợi và em hẹn hò… (Nhạc sĩ An Thuyên).

ANH KHÔI

;
.
.
.
.