Nét riêng nón lá Huế - Nông Thôn Việt

Nét riêng nón lá Huế

Thứ Hai, 29/06/2020, 17:00 [GMT+7]

Trang phục, rộng hơn là các phương tiện che đội, luôn là chủ đề hấp dẫn khi tìm hiểu các vùng văn hóa, nền văn hóa. Bởi tùy điều kiện địa lý tự nhiên và đặc tính văn hóa mà con người thể hiện những sắc thái trang phục đặc thù. Truyền thống đội nón là một nét tương đồng văn hóa từ nhiều cộng đồng cư dân. Trong đó, có lẽ nón lá - tiêu biểu như nón lá Huế - là hình thái trang phục phổ biến nhất ở xứ sở nhiệt đới ẩm, cho thấy con người đã biết chọn lựa những chất liệu từ tự nhiên để làm nên một vật dụng không chỉ thuần túy chức năng che đội, mà còn cộng thêm chức năng trang sức cùng nhiều giá trị, định chế xã hội.

1.

Khó có căn cứ khẳng định thời điểm xuất hiện nghề làm nón lá Huế, ai là tổ nghề... nhưng chắc chắn, nó đã có từ rất xa xưa. Bởi hình ảnh chiếc nón đã sống động trong tâm thức nghĩ suy và ứng xử, trong đời sống văn hóa và ngôn ngữ, gắn liền ca dao, tục ngữ của dân tộc. Qua đôi dòng sử liệu quý hiếm minh họa, thì ít ra chiếc nón lá đã có từ thời mở cõi xứ Thuận Hóa trong Ô châu cận lục (1553). “Đi về Lôi Trạch sương đầy nón lá/ qua lại Bồ Điền, mưa thấm áo tơi” ở miền Phong Điền hiện nay (Dương Văn An nhuận sắc, 1961, Ô châu cận lục, Văn hoá Á Châu xuất bản, tr. 62). Hay rõ hơn ở thời Đàng Trong, thấm đẫm trong từng câu ca dân gian: “Ru em cho théc cho muồi/ để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu...”, “Chợ Dinh bán áo con trai/ Triều Sơn bán nón Mậu Tài bán kim...”.

Trong hành trình mở cõi về phương Nam, xứ Thuận Hóa được hình thành từ nền tảng Ô Lý của lân bang, trở thành trọng trấn phương Nam của Đại Việt. Từ thế kỷ XVI, khát vọng xây dựng vùng đất mới đã làm cho Thuận - Quảng trở thành thủ phủ chính trị và kinh tế, làm hậu phương vững mạnh cho sự hình thành xứ Đàng Trong. Nhờ đó, gắn liền quá trình hoàn thiện thể chế chính trị thì đời sống văn hóa của xứ sở cũng được nâng cao. Trong diễn trình lịch sử văn hóa đó, nón lá Huế đã định hình nên những nét riêng và rất được ưa chuộng. Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn từ cuối thế kỷ XVIII đã đặc biệt nhấn mạnh dáng vẻ và phẩm giá của nón lá vùng Huế: Nón ở Thuận hóa kiểu hơi khác với các xứ. Xóm Tam, giáp Thượng xã Triều Sơn, huyện Phú Vang, chằm nón rất nhỏ mỏng (Toàn tập, Tập I, Nxb. KHXH, tr. 325).

Từ thế kỷ XIX, Huế trở thành kinh đô của đất nước Đại Nam hùng mạnh, xu hướng sang trọng hóa, cung đình hóa đã làm cho đời sống văn hóa Huế, nhất là trong trang phục có sự chuyển biến đáng kể, đặc biệt là với chiếc nón lá: nổi bật tính chất nhẹ nhàng, tinh tế, uyển chuyển và sang trọng trong văn hóa Huế, làm nên tính hoàn mỹ của bộ trang phục, từ đôi guốc mộc cho đến tà áo, nón đội.

Khách du lịch mua nón lá Huế tại chợ Đông Ba.  Ảnh: Trần Như Đăng Tuyên.
Khách du lịch mua nón lá Huế tại chợ Đông Ba. Ảnh: Trần Như Đăng Tuyên.

2.

Nét đặc trưng nổi bật của nón lá Huế là sự mỏng manh, hài hòa, cân đối với dạng chóp nhọn, vành rộng ở mức độ vừa phải. Từ sự chi phối của điều kiện thời tiết khắc nghiệt, cùng điều kiện chính trị xã hội đặc trưng, có thể phác thảo bước đường định hình nên nón lá Huế từ những loại hình nón dân dã rộng vành - hình dẹt kết hợp với các loại nón lính chỏm nhọn, vành nhỏ (nón sơn, nón dấu...). Xứ Huế xưa từng có quy thức nón nhiều hơn 2 vành mang nhiều giá trị tôn giáo tín ngưỡng và ứng xử đặc trưng, chủ yếu dành cho các vị tăng ni hay thiếu nữ khuê các, để “nghiêng nón em che” trong những trường hợp tế nhị, như muốn “ngăn chặn” những ánh mắt trần tục xoi mói từ bên ngoài chẳng hạn.

Nhờ đó, nón lá xứ Huế được coi là một khía cạnh biểu hiện rõ nét, như một dạng thức vật chất đặc biệt của văn hóa Huế trên phương diện nghệ thuật tạo hình, nổi bật với cấu trúc và hình dáng thanh mảnh, cầu kỳ, tinh tế. Từ những thông tin hiếm hoi trong sử liệu, tác giả Đỗ Nam trong quá trình xây dựng chỉ dẫn địa lý Huế cho sản phẩm nón lá của tỉnh Thừa Thiên Huế, đã sử dụng phương pháp so sánh thực chứng các đặc trưng vật lý để khẳng định nón Huế mỏng, nhẹ và bền so với nón lá các nơi. Cụ thể, hình dáng chiếc nón lá Huế cân đối, bắt nguồn từ những kích thước hợp lý (bán kính vành nón - tỷ lệ chiều cao) được nhiều thế hệ những người thợ tài hoa đúc rút từ cuộc sống. Nón lá Huế dù là nón ba lớp, vẫn nhẹ và bền đẹp hơn hẳn nón làng Chuông và nón Gò Găng. Ông cũng dùng phương pháp trọng lực để đo áp lực lên mặt nón lá, chứng minh độ bền của nón Huế (Đỗ Nam, 2009, “Xây dựng chỉ dẫn địa lý Huế cho sản phẩm nón lá của tỉnh Thừa Thiên Huế”, Báo cáo dự án, Huế, Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế, tr. 11).

3.

Tuy nhiên, để khẳng định độ bền đẹp của nón lá Huế, điểm tiên quyết cần xem xét là công năng, bối cảnh lẫn thái độ, phương thức sử dụng của con người. Ở xứ sở trầm mặc cổ kính này, yếu tính nhẹ nhàng thanh thoát từ trong sinh hoạt lẫn trong sản xuất, càng giúp làm tăng độ bền đẹp của từng chiếc nón lá. Cũng trên nền tảng đó mà từ đầu thế kỷ XX, những nét tinh tế, ý vị và duyên dáng đã được cộng hưởng để hình thành nên chiếc nón bài thơ mang đậm phong cách Huế đặc trưng.

Nón lá Huế có nhiều điểm khác biệt so với nón lá các nơi về cấu tạo hình dáng, độ thanh mảnh và màu sắc. Để làm ra một sản phẩm - tác phẩm đẹp, thanh mảnh, bền là cả một nghệ thuật, đầy công phu của nghệ nhân. Về kỹ thuật, người thợ Huế rất công phu và tỉ mỉ trong mọi công đoạn, từ làm khuôn, chọn lá, ủi lá, xây lá, chằm, nức vành, cho tới đính soài, phủ dầu, phơi nắng. Đặc biệt, chằm nón bài thơ càng kỳ công và tỉ mẩn hơn với thao tác công phu ở kỹ thuật tạo hình và cắt chữ trên giấy màu đậm (màu tím, đỏ...), xếp chen giữa hai lớp lá nón để tăng thêm phần mỹ thuật và nét duyên dáng cho người sử dụng. Thế nên có thể xem nón lá bài thơ là một tác phẩm tiêu biểu cho nghề nón lá xứ Huế.

Nguyên liệu như lá, tre cũng góp phần quan trọng làm nên phẩm chất riêng của chiếc nón Huế, tạo nên màu sắc riêng có của tác phẩm. Tùy đặc trưng phong thổ, mỗi vùng lại có nhiều loại lá nón. Dân miền ngoài phổ biến dùng lá cọ, lá gõ, châu Bố Chánh có thứ lá gõ (gồi) dùng để lợp mái kiệu, dân sống ở vùng này đã chọn loại lá non đem về phơi khô kết làm nón đội đầu, gọi là “nón gò” (Lê Quý Đôn, 1962, Vân đài loại ngữ, Nxb. Văn hóa, tr. 198). Núi rừng vùng Huế phổ biến loại cây Bồ Diệp Quý, tục danh lá Bồng, dùng làm áo tơi và quạt. Có khả năng Bồ Diệp Quý chính là tên dân gian vùng Huế để chỉ cây lá nón (Tên khoa học Licuala fatoua Becc: Lá lụi [Lê Khả Kế, 1975, Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam, tập 5, Nxb. KH & KT, tr. 453]. Ở đây, cần xác định đúng tuổi lá để khai thác, điểm quan trọng trong tri thức bản địa của người thợ hái lá nón chuyên nghiệp (không quá non, không quá già). Nhờ quy trình chọn lá khắt khe cùng các kỹ thuật sơ chế sấy, ủ, không dùng hóa chất mà nón lá Huế có màu trắng sáng đặc trưng, hòa lẫn trong màu trắng xanh nhẹ nhàng, thanh cảnh, nhất là khi màu xanh được những đường tinh tế theo chiều dọc lá điểm xuyết.

Nón lá Huế được làm hoàn toàn thủ công. Ảnh: Nguyễn Khoa Huy.
Nón lá Huế được làm hoàn toàn thủ công. Ảnh: Nguyễn Khoa Huy.

4.

Hội đủ chức năng che đội - trang điểm, trang phục, đảm bảo sự hài hòa của một tổng thể nữ phục Huế - nữ phục Việt Nam cổ điển, sang trọng với guốc mộc, áo dài và nón lá, nón lá Huế nổi tiếng và được thị trường ưa chuộng, trở thành “sứ giả” văn hóa Huế. Tuy hiện nay nhu cầu sử dụng phương tiện che đội không còn phổ biến, nhưng giá trị biểu tượng của xứ Huế đã giúp nón lá trở thành món quà lưu niệm, kỷ vật chất chứa hình bóng và tình yêu quê hương, vượt lên chức năng sử dụng một vật dụng thông thường. Thêm vào đó, nón lá còn có khả năng đặc biệt để hóa thân trong đời sống nghệ thuật đương đại gắn liền với trang trí, thiết kế cảnh quan nội ngoại thất, lễ nghi khánh tiết, sân khấu...

Nón lá Huế là sản phẩm thủ công mỹ nghệ đầu tiên của Huế được Cục Sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý (tháng 8/2010). Hội Nón lá Huế được thành lập, cùng sự chung tay của các cơ quan nhà nước, là những trợ lực quan trọng, tạo hành lang pháp lý cho nón lá có thêm sức sống, lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người theo nghề chằm nón. Đây cũng là phương thức thiết thực để bảo tồn, phát triển di sản thủ công truyền thống.

TS TRẦN ĐÌNH HẰNG

Phân viện trưởng Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế

;
.
.
.