Sơn mài Bình Dương - Niềm tự hào của mỹ thuật Việt - Nông Thôn Việt

Sơn mài Bình Dương - Niềm tự hào của mỹ thuật Việt

Thứ Ba, 11/08/2020, 16:01 [GMT+7]

Trong lịch sử phát triển của mình, Bình Dương mang đậm nét văn hóa thủ công truyền thống. Với đặc điểm là vùng đất được khai khẩn bởi người dân di cư từ miền Bắc, miền Trung, đồng thời là nơi giao thương sầm uất từ khoảng thế kỷ XVIII, Bình Dương hội tụ văn hóa của các vùng miền và tập trung được nhiều thợ thủ công tay nghề cao hình thành nên các làng nghề nổi tiếng; trong đó sơn mài là một trong những nghề tạo nên tiếng tăm của đất Bình Dương cho tới tận ngày nay.

 

Từ lối chế tác cha truyền con nối, bằng bàn tay và khối óc của mình, các lớp nghệ nhân đã dày công nghiên cứu, sáng tạo để làm ra những tác phẩm sơn mài nức tiếng gần xa. Sản phẩm sơn mài Bình Dương có chất lượng cao, đề tài phong phú, chất liệu đa dạng, xứng đáng được coi là nét tinh hoa văn hóa của dân tộc, cần được tôn vinh và gìn giữ.
Từ lối chế tác cha truyền con nối, bằng bàn tay và khối óc của mình, các lớp nghệ nhân đã dày công nghiên cứu, sáng tạo để làm ra những tác phẩm sơn mài nức tiếng gần xa. Sản phẩm sơn mài Bình Dương có chất lượng cao, đề tài phong phú, chất liệu đa dạng, xứng đáng được coi là nét tinh hoa văn hóa của dân tộc, cần được tôn vinh và gìn giữ.

Trong lịch sử phát triển của mình, Bình Dương mang đậm nét văn hóa thủ công truyền thống. Với đặc điểm là vùng đất được khai khẩn bởi người dân di cư từ miền Bắc, miền Trung, đồng thời là nơi giao thương sầm uất từ khoảng thế kỷ XVIII, Bình Dương hội tụ văn hóa của các vùng miền và tập trung được nhiều thợ thủ công tay nghề cao hình thành nên các làng nghề nổi tiếng; trong đó sơn mài là một trong những nghề tạo nên tiếng tăm của đất Bình Dương cho tới tận ngày nay.

Từ lối chế tác cha truyền con nối, bằng bàn tay và khối óc của mình, các lớp nghệ nhân đã dày công nghiên cứu, sáng tạo để làm ra những tác phẩm sơn mài nức tiếng gần xa. Sản phẩm sơn mài Bình Dương có chất lượng cao, đề tài phong phú, chất liệu đa dạng, xứng đáng được coi là nét tinh hoa văn hóa của dân tộc, cần được tôn vinh và gìn giữ.

Tranh tô màu xong sẽ được phủ một lớp sơn đen lên để bịt các khe hở. Sau đó, thợ sẽ mài lớp sơn đen này để lộ ra màu sắc phía dưới. (Nguồn: xưởng sơn mài Định Hòa)
Tranh tô màu xong sẽ được phủ một lớp sơn đen lên để bịt các khe hở. Sau đó, thợ sẽ mài lớp sơn đen này để lộ ra màu sắc phía dưới. (Nguồn: xưởng sơn mài Định Hòa)

Theo chân ông cha vào Nam từ thời khai hoang lập ấp, nhựa cây sơn vùng Phú Thọ cùng nghề sơn đã trụ lại vùng đất Bình Dương cho tới tận ngày nay. Nghề sơn nơi đây ban đầu đi kèm với nghề mộc, sau đó dần tách ra và phát triển tới đỉnh cao thành nghề sơn mài. Các nghệ nhân đất Thủ với bàn tay tài hoa đã gầy dựng nên danh tiếng làng nghề sơn mài Bình Dương trứ danh lục tỉnh Nam Kỳ.

Kế thừa và phát huy

Nghề sơn mài ở đất Bình Dương xưa ra đời gắn liền với lịch sử di dân của dòng người Việt từ miền Bắc, miền Trung vào miền Đông Nam bộ để khai hoang mở cõi. Hành trang mang theo của họ không chỉ là lương thực, thực phẩm mà còn cả truyền thống văn hóa. Họ đã thích ứng và tận dụng môi trường tự nhiên, các vật liệu sẵn có để biến chúng trở thành các vật dụng thiết yếu cho cuộc sống cũng như hoạt động nông nghiệp, từ đó hình thành nên các làng nghề thủ công gắn với các địa danh như: gốm Lái Thiêu, sơn mài Tương Bình Hiệp, mộc Phú Cường, chạm gỗ Phú Văn…

Làng sơn mài được biết đến nhiều nhất ở Bình Dương là làng sơn mài Tương Bình Hiệp, ra đời vào thế kỷ XVIII. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi: “Ở làng Thủ Dầu Một, dân chúng có nghề làm sơn theo kiểu cổ khá thịnh vượng…”. Những người con xa quê ở Bình Dương lúc bấy giờ đã vận dụng nguồn nguyên liệu gỗ các loại, kết hợp với sơn để vẽ những bức tranh phong cảnh chủ đề cây đa, bến nước, sân đình… để vơi đi nỗi nhớ quê nhà. Những người thợ giỏi thì vẽ tranh trong các đình chùa, trang trí nội thất…

Dưới thời Pháp thuộc, năm 1901, thực dân Pháp khi muốn nắm lấy thế mạnh của Thủ Dầu Một về nghề truyền thống đã tập trung hầu hết những nghệ nhân xuất sắc nhất của đất Thủ cùng với các chuyên gia Pháp để thành lập trường Mỹ thuật bản xứ Thủ Dầu Một, người dân địa phương thường gọi là trường Bá Nghệ.

Trường Bá Nghệ đã tạo điều kiện cho các nghệ nhân sơn mài ở Bình Dương có điều kiện nâng cao kiến thức, trình độ mỹ thuật ứng dụng vào ngành nghề mà trước đây chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình, cha truyền con nối.

Với nhiều yếu tố thuận lợi như tập trung được các thợ, nghệ nhân giỏi từ miền Bắc, miền Trung cùng với lớp nghệ nhân, họa sĩ được đào tạo bài bản từ trường lớp, Bình Dương đã có được nguồn lao động trình độ tay nghề và trình độ quản lý cao. Những nghệ nhân, họa sĩ này sau đó đã lập ra các xưởng sản xuất, thu nhận thêm lao động và tiếp tục cống hiến cho sự phát triển của nghề sơn mài Bình Dương.

Bình Dương có đủ 3 loại hình của sơn mài truyền thống là sơn mài trang trí, sơn mài ứng dụng và tranh sơn mài. Không phải ngẫu nhiên mà sơn mài Bình Dương lại nổi tiếng. Theo truyền thống, một sản phẩm từ nguyên liệu gỗ đến khâu cuối cùng phải trải qua quá trình 25 công đoạn, làm nên sự khác biệt giữa sơn mài nơi đây với các địa phương khác. Mỗi công đoạn đòi hỏi một nghệ thuật riêng tỉ mỉ, công phu, có công đoạn phải làm đi làm lại tới 6 lần mới đạt yêu cầu như công đoạn hom, sơn lót. Trung bình một tác phẩm mất từ 3 – 6 tháng để hoàn thiện và đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Sơn mài Bình Dương có một số hình thức thể hiện tiêu biểu như: dát vàng bạc làm nền hoặc họa tiết, vẽ phủ, vẽ lặn mỏng hoặc phức tạp, cẩn ốc chìm hoặc nổi, cẩn vỏ trứng, khắc trũng, đắp nổi…

Với việc đa dạng các hình thức thể hiện, cách pha chế sơn cũng theo đó mà trở nên phong phú. Ngoài nguồn sơn ta được đưa vào từ Phú Thọ, Bình Dương còn giáp với quốc gia có trồng cây sơn là Campuchia nên sơn từ Phnôm Pênh (thường gọi là sơn Nam Vang) được đưa về đây dễ dàng, tạo điều kiện cho sơn mài Bình Dương phát triển đa dạng về nghệ thuật thể hiện. Khi pha chế sơn, các nghệ nhân đã pha trộn thêm sơn Nam Vang có đặc tính dẻo vào để khi khắc không bị bể, nứt hoặc hư nét. Sơn Nam Vang cũng làm tác phẩm có thêm sắc độ nâu đậm, đem lại cảm giác trầm ấm hơn. Cách pha chế sơn ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả của màu sắc trên thành phẩm, mỗi nghệ nhân sẽ có bí quyết riêng cốt làm sao đạt đến hiệu quả tốt nhất.

Có thể nói, sơn mài Bình Dương là sự kế thừa tinh hoa văn hóa của cả ba miền, từ chất liệu đến phương thức thể hiện. Các nghệ nhân Bình Dương đã khéo léo gửi gắm cái hồn của Việt Nam trong cách cảm, cách nghĩ với những chủ đề quê hương, đất nước, con người trên nền chất liệu sơn của dân tộc. Nhưng điều đặc biệt là bản sắc dân tộc ấy lại được thể hiện bằng kỹ thuật tạo hình, phối cảnh, bố cục của hội họa châu Âu.

Các tác phẩm sơn mài Bình Dương vì vậy mà có cả nét cổ kính bên cạnh tân kỳ, lộng lẫy bên cạnh mộc mạc. Có lẽ chính sự dung hòa này đã khiến cho tiếng tăm của các tác phẩm sơn mài Bình Dương lan xa, được giới mỹ thuật quốc tế đánh giá cao, được thị trường các nước Tây Âu, Nhật Bản và Trung Đông ưa chuộng. Thời kỳ đỉnh cao nghệ thuật của sơn mài Bình Dương là vào những năm 1945 - 1975 với dấu ấn của các thương hiệu tên tuổi như Thành Lễ, Trần Hà… Còn giai đoạn cực thịnh của sơn mài Bình Dương là những năm 1975 – 1990 khi cứ 10 hộ gia đình thì có 8 hộ làm sơn mài hoặc các công việc liên quan đến nghề sơn mài. Có thời điểm sản phẩm sơn mài đóng góp tới 30% giá trị xuất khẩu của tỉnh.

Ngày nay, các nghệ nhân trẻ ở Bình Dương cũng đang tìm tòi để pha trộn, xử lý, khiến sơn ta có nhiều màu sắc tươi sáng, bắt mắt và khắc phục những điểm yếu của sơn ta nhằm đáp ứng được nhu cầu thị trường đối với các sản phẩm sơn mài ứng dụng. Đề tài thể hiện cũng được đa dạng hơn, mang hơi thở hiện đại, phù hợp với thị hiếu của người trẻ.

Sơn mài Bình Dương có rất nhiều hình thức thể hiện, hay còn gọi là “bộ môn” và mỗi nghệ nhân thường sẽ chuyên một bộ môn nhất định.

Ông Hồ Trọng Minh, người đã có 40 năm trong nghề, vừa thoăn thoắt nhúng nước một miếng giấy nhám loại mịn rồi chà lên chiếc khay được phủ sơn đen bóng, vừa vui vẻ hướng dẫn: “Tùy theo bề mặt của sản phẩm mà tôi mài bằng các loại giấy có độ nhám khác nhau. Mới ban đầu khi sơn còn gồ ghề thì dùng miếng giấy nhám nhiều, bề mặt càng trơn láng thì chuyển sang dùng những miếng giấy ít nhám hơn, và cuối cùng khi sản phẩm gần hoàn thiện thì dùng miếng xốp mềm để mài”.

Ông Minh được truyền nghề từ bố, chuyên môn chính của ông là kéo sơn, mài sơn. “Lúc trước tôi làm ở HTX 19/5 ngoài chợ cũ Tương Bình Hiệp, sau cơ sở không còn hoạt động và nghề không còn thịnh như trước thì tôi làm thêm các nghề khác, nhưng vẫn gắn bó với nghề này tới tận bây giờ. Tuy thu nhập không cao, nhưng nghề đã ăn sâu vào máu, không làm thì thấy nhớ, không bỏ được”, ông Minh cho biết.

Còn ông Nguyễn Thanh Tâm, nghệ danh Trần Huy (55 tuổi), có hơn 30 năm trong nghề, thì chuyên về vẽ tranh. Ông Tâm kể rằng mình cũng được truyền đam mê với sơn mài từ bố - người khi xưa đã gửi ông tới các nghệ nhân tên tuổi ở Bình Dương để học tất cả các bộ môn trong nghề. Sau đó, dù có thể làm được hầu hết các loại hình nhưng ông Tâm đã chọn đi theo môn mà mình yêu thích nhất là vẽ tranh.

Tỉ mẩn tô màu lên bức tranh còn đang dang dở, ông Tâm cho biết mình đang vẽ bằng sơn ta đã có cải tiến, màu sắc vì vậy mà trở nên bắt mắt hơn, nhanh khô hơn. Tùy theo dụng ý mà người vẽ tranh sẽ “đi” ít hay nhiều lớp màu, và phải đợi lớp màu cũ khô mới có thể tô đè thêm lớp mới, quá trình này mất từ 1 tuần cho đến vài tháng đối với các tranh phức tạp. Do đó, để đạt hiệu quả kinh tế, thường người ta sẽ vẽ một lúc nhiều bức. Sau khi hoàn thành xong khâu tô màu, một lớp sơn đen nữa sẽ được phủ lên toàn bộ bức tranh để bịt các khe hở, giúp bề mặt bức tranh trở nên liền lạc và bảo quản màu sắc được lâu. Tiếp tới, thợ mài sẽ mài đi lớp sơn đen đó để lộ lên màu sắc phía dưới.

Còn nhiều trăn trở

Ngày nay, với sự sáng tạo và óc thẩm mỹ, các nghệ nhân ở làng nghề sơn mài Bình Dương đã tiếp tục kế thừa và sáng tạo để đa dạng hóa các sản phẩm cung cấp cho thị trường, từ tranh vẽ đến các loại hình sơn mài ứng dụng như tủ, bàn, ghế, trang sức, các loại hộp, khay…Đáng buồn là quy mô của làng nghề sơn mài Bình Dương đang ngày càng bị thu hẹp, chỉ còn khoảng 20 - 30 cơ sở lớn nhỏ, chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động nhàn rỗi, lao động lớn tuổi của địa phương.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự đi xuống của làng nghề, nhưng một trong những nguyên nhân lớn nhất là chất lượng sản phẩm giảm sút do một bộ phận người làm nghề chạy theo thị trường nên đã cho ra thị trường các sản phẩm sản xuất bằng phương pháp công nghiệp, đại trà, cắt bớt các bước, làm giảm chất lượng sản phẩm. Việc sản xuất hàng loạt cũng khiến các nghệ nhân không kịp đầu tư cho sự sáng tạo, khiến sản phẩm không đạt được thẩm mỹ như thời kỳ cực thịnh trước đây.

Ông Lê Bá Linh – Phó Chủ tịch Hiệp hội Sơn mài - Điêu khắc tỉnh Bình Dương cho biết làng nghề đang gặp phải tình trạng thiếu nhân công, đặc biệt là nhân công có tay nghề cao. Lớp trẻ hiện nay không còn mặn mà với nghề sơn mài, mà chọn theo những việc khác có thu nhập cao hơn. Mặt khác, cũng do thị hiếu của thị trường chuyển sang các sản phẩm giá rẻ nên các mặt hàng sơn mài chất lượng cao rất khó cạnh tranh. Một số kỹ thuật khó, đặc biệt như khắc trũng, cẩn trứng cũng vì vậy mà dần thất truyền.

“Nhưng trăn trở lớn nhất hiện nay của làng nghề là làm sao giữ được nghề, giữ được truyền thống văn hóa độc đáo của làng nghề sơn mài Bình Dương, đồng thời ổn định được đầu ra, tăng giá trị sản phẩm để thu hút được nhân công”, ông Linh nói.

Đứng trước nguy cơ biến mất của làng nghề hàng trăm năm tuổi này, UBND tỉnh Bình Dương cùng các ban ngành liên quan đã có nhiều động thái để hỗ trợ làng nghề như hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu tập thể, đào tạo nghề, hỗ trợ vốn để các cơ sở sản xuất đảm bảo vấn đề môi trường, đưa ra các đề án để bảo tồn làng nghề gắn với phát triển du lịch. Năm 2006, Hiệp hội Sơn mài - Điêu khắc tỉnh Bình Dương được thành lập. Năm 2011, UBND tỉnh ban hành quyết định về việc “Bảo tồn và phát triển làng nghề sơn mài truyền thống”. Năm 2017, nghề sơn mài Tương Bình Hiệp được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Theo ông Lê Bá Linh, những chính sách của địa phương đã hỗ trợ đáng kể cho sự phát triển của làng nghề. Tuy vậy, để thực sự vượt qua khó khăn, tự thân các doanh nghiệp phải nỗ lực tìm đầu ra, thay đổi theo thị hiếu của thị trường nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng và uy tín. Các họa sĩ cũng cần thay đổi tư tưởng trong các mẫu vẽ, hướng đến nội dung hiện đại. Đồng thời, làng nghề cũng rất cần nhà nước có sự hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, đường sá, các điểm dừng chân du lịch để giữ chân khách du lịch ở lại địa phương lâu hơn, từ đó làng nghề có thể kết hợp xây dựng các phòng trưng bày và bán sản phẩm.

Hy vọng, với những chính sách quyết liệt từ địa phương cùng sự tâm huyết của những nghệ nhân vẫn đau đáu với nghề, làng nghề sơn mài Bình Dương sẽ được gìn giữ, bảo tồn cho thế hệ mai sau, lạc quan hơn là sớm tìm lại được thời hoàng kim năm nào.

NGỌC PHƯƠNG

;
.
.
.
.