Sơn mài - sự thăng hoa của sơn ta - Nông Thôn Việt

Sơn mài - sự thăng hoa của sơn ta

Thứ Ba, 11/08/2020, 15:59 [GMT+7]

Có thể nói, với nghệ thuật sơn mài, sơn ta - chất liệu sơn ngàn năm cổ truyền của dân tộc Việt đã thực sự thăng hoa, trở thành một chất liệu quý giá và sang trọng. Sơn ta cùng với vàng, bạc, trứng, vỏ ốc… dưới đôi tay tài hoa của các nghệ nhân Việt đã hòa hợp với nhau để tạo ra những bức tranh sơn mài độc đáo, có giá trị thẩm mỹ cao.

 

Tranh sơn mài
Tranh sơn mài "Vườn xuân Bắc Trung Nam" của Họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Từ chất liệu độc đáo và lâu đời

Theo Từ điển Thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông, sơn ta được làm từ nhựa của cây sơn, mọc nhiều ở vùng rừng núi trung du nước ta, nhất là vùng Phú Thọ. Sơn ta khác hẳn với sơn Tây (sơn tổng hợp của các nước du nhập vào nước ta, được làm bằng hóa chất, có nhiều màu, dùng để sơn lên gỗ, kim loại, nhằm trang trí hoặc để chống gỉ, chống ẩm, mối mọt…).

Nhựa cây sơn ta là một chất lỏng quánh, màu trắng ngà như sữa, có mùi chua nhẹ. Nhựa cây sau khi được pha với nhựa thông sẽ trở thành sơn “chín”, tùy vào cách pha mà sơn có màu đen (sơn then), màu cánh gián hay các sắc độ màu khác nhau. Sơn ta có độ dính cao, khi khô rồi rất bền, không thấm nước, không bị mối mọt, chịu được axít, nước biển và nhiệt độ cao. Sơn ta tuy cứng nhưng lại có độ dẻo, đàn hồi hòa hợp với cốt gỗ. Khi bị tác động vẫn bám chắc, không bong tróc, rạn vỡ. Mặt sơn dễ mài phẳng, có độ trong, óng ả, sâu thẳm và bền màu.

Ông cha ta từ xưa đã biết sử dụng sơn ta vào đời sống, nhiều nhất là trang trí đồ thủ công mỹ nghệ, từ phù điêu, điêu khắc, chạm trổ, sơn son thiếp vàng ở những nơi trang nghiêm như cung điện, đền đài, chùa, miếu… cho đến những vật dụng hằng ngày như hộp, tráp, cơi trầu, bàn ghế… Kỹ thuật mài bóng sau khi thiếp nhiều nước và để khô trong điều kiện ẩm là một đặc tính riêng có của sơn mài Việt. Tuy nhiên, giai đoạn này sơn ta chỉ dừng lại ở mức là một chất liệu để phủ lên đồ vật nhằm trang trí và tăng độ bền của sản phẩm.

Năm 1934 đã đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử nghề sơn truyền thống khi Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương chính thức mở xưởng nghiên cứu sơn ta. Từ đó, sơn ta có điều kiện ứng dụng trong hội họa, cụ thể là tranh sơn mài.

Và rồi nghệ thuật tranh sơn mài đã được ra đời nhờ những tìm tòi của các bậc tiền bối như họa sĩ Trần Văn Cẩn, Trần Quang Trân, Nguyễn Khang, Phạm Hậu, Lê Phổ, Nguyễn Gia Trí… Tranh sơn mài được thể hiện thông qua nhiều hình thức như: sơn mài phẳng, sơn mài cẩn nổi, cẩn chìm, sơn mài trũng… Những tác phẩm sơn mài tuyệt đẹp có thể xem như bằng chứng đầu tiên khẳng định đẳng cấp hội họa đích thực của thể loại này là của các tác giả: Trần Quang Trân - tác phẩm "Bờ ao" (Bình phong 6 tấm), Lê Phổ - tác phẩm Phong cảnh Bắc Kỳ và các tác phẩm của Nguyễn Gia Trí.

Trong sách “Các họa sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương”, họa sĩ Quang Phòng đã viết: “Sự kiện đặc biệt quan trọng ở thời kỳ đầu xây dựng nền hội họa hiện đại Việt Nam là sự xuất hiện tranh sơn mài. Từ kỹ thuật sơn ta cổ truyền đến sơn mài hiện đại là cả một bước ngoặt lớn, đánh dấu kỷ nguyên về một chất liệu mang tính đặc thù dân tộc có khả năng áp dụng vào hội họa”.

Nguy cơ mai một

Dù được coi là vốn quý của dân tộc, nhưng ngày nay sơn ta đang có chiều hướng mai một khi các loại sơn công nghiệp, sơn từ dầu vỏ hạt điều ngày càng được ưa chuộng hơn. Một phần lý do của thực trạng này là sơn ta khó dùng, lâu khô, cần hong khô trong môi trường ẩm, dễ gây dị ứng cho người dùng. Ngoài ra, sơn ta rất đắt đỏ do vùng trồng giảm và được một số nước xung quanh ưa chuộng nên thu mua nhiều, đẩy giá sơn lên cao.

Thêm vào đó, các làng nghề ở nước ta hiện nay cũng đi theo xu hướng thị trường, cần số lượng nên không mấy mặn mà với sơn ta mà chuyển sang sơn công nghiệp với đặc tính khô tức thì, màu tươi. Các công đoạn thực hiện tranh sơn mài cũng được giản tiện bớt số bước, đồng thời máy móc cũng được áp dụng cho các công đoạn mài, phun, xịt, phủ bóng…

Tuy vậy, các tác phẩm từ sơn ta vẫn được giới mỹ thuật đánh giá cao hơn do màu sắc của sơn ta có chiều sâu, lại có độ bám dính và co giãn tốt nên sản phẩm làm ra hầu như không bị ảnh hưởng bởi thời tiết, không xảy ra hiện tượng bong tróc, nứt mặt như khi sử dụng các chất liệu khác. Thêm vào đó, sơn ta có đặc tính càng lâu năm càng trong, bóng, làm ửng lên các gam màu phong phú, kỳ lạ, nhiều sắc độ của bức tranh.

Có thể nói hiện nay sơn công nghiệp đang dần thay thế sơn ta trên mọi lĩnh vực, từ sáng tác tranh đến trùng tu, phục chế… sơn ta đã không còn được ưu tiên sử dụng trong các làng nghề, thậm chí cả trong các trường dạy mỹ thuật. Sẽ thật đáng tiếc nếu chúng ta không thể gìn giữ chất liệu đã đi cùng mỹ thuật Việt hàng trăm năm nay và đã từng là một trong những thành tố quan trọng làm nên vinh quang của tranh sơn mài Việt.

PHƯƠNG LINH

;
.
.
.
.