Giữ hồn bánh dân gian Nam Bộ - Nông Thôn Việt

Giữ hồn bánh dân gian Nam Bộ

Thứ Năm, 10/05/2018, 14:13 [GMT+7]

Bánh dân gian Nam bộ không chỉ đơn thuần dùng để ăn mà nó còn mang nhiều ý nghĩa lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng. Bánh là lễ vật dùng trong cưới hỏi, giao tiếp, dâng cúng ông bà, tổ tiên và thần thánh. Vì thế, có thể nói, mỗi chiếc bánh dân gian đều ẩn chứa chút tình và chút hồn quê nồng đượm.

Tình là sự chăm chút, tỉ mẩn của các mẹ, các chị và người thân gửi vào chiếc bánh. Hồn là hồn của cỏ cây hoa lá quyện vào trong từng chiếc bánh như bánh lá dừa, bánh lá mít, bánh ít, bánh tét… Ngoài ra còn có những chiếc bánh mang giá trị tinh thần cao hơn mùi vị. Đó là chiếc bánh do mẹ mình tự xay bột, làm nhưn, thổi lửa chờ con đi xa trở về. Nhà văn Lâm Ngữ Đường có một câu nói rất thâm thúy “Tình yêu đất nước là sự thương nhớ, thèm thuồng món ăn mà cha mẹ cho mình ăn lúc mình nhỏ tuổi”.

Gói bánh tét đã trở thành thông lệ của người Nam bộ trong các ngày lễ, tết, hội hè, đình đám.
Gói bánh tét đã trở thành thông lệ của người Nam bộ trong các ngày lễ, tết, hội hè, đình đám.

Nam bộ hiện có trên 100 loại bánh dân gian với nhiều hình thức chế biến khác nhau. Nét đặc trưng của bánh dân gian Nam bộ là món nào cũng làm bằng gạo, nếp, ngũ cốc hoặc bột gạo, bột nếp kèm với nhưn mặn, nhưn ngọt, sau đó qua lửa làm chín bánh. Bánh làm ra thường dùng trong các ngày lễ, tết, hội hè, đình đám như bánh tét, bánh ít, bánh tráng, bánh phồng, bánh ú nước tro. Cốm dẹp của người Khmer được coi là vật phẩm dùng cúng ông bà. Chè, xôi của người Việt để dâng cúng thánh thần hoặc cúng đầy tháng, thôi nôi của trẻ nhỏ. Ngoài ra còn có những loại bánh dùng ăn tráng miệng, ăn dặm, ăn trong lúc lao động ngoài đồng hoặc ăn chơi, ăn vui miệng.

Hiện nay, nhiều món ăn truyền thống, trong đó có bánh dân gian đã và đang bị tác động rất lớn bởi sự du nhập của văn hóa ẩm thực thế giới, thậm chí bị cạnh tranh khốc liệt. Mặc dù vậy, bánh dân gian Nam bộ vẫn tồn tại và phát triển không ngừng. Trước hết là nhờ có sự hội tụ những nét tinh hoa từ nhiều vùng miền khác nhau, từ nhiều tộc người khác nhau. Kế đến là sự kết tinh, chọn lọc của các nghệ nhân, các bà nội trợ có bàn tay tài hoa, lịch lãm đã kế thừa và bảo tồn những chiếc bánh dân gian, góp phần đa dạng hóa các loại bánh mà không làm mất đi bản sắc văn hóa bản địa.

Bà con người Khmer quết cốm dẹp
Bà con người Khmer quết cốm dẹp

Thời khai hoang, những chiếc bánh đầu tiên ra đời rất đơn sơ, mộc mạc. Hầu hết bánh được gói bằng lá chuối tươi, lá dừa, lá dong, lá tre, lá mật cật hoặc nắn trên lá mít, lá tre, lá lùng. Xưa kia ông cha dùng lá vông nem, đọt chùm ruột để gói nem, bì. Ngoài ra còn sử dụng các loại củ rễ thiên nhiên để sát khuẩn và trừ nấm mốc. Đó là những kinh nghiệm quý báu, những tri thức dân gian mà ông cha ta đã trải nghiệm và kết tinh từ nhiều đời.

Trước đây, muốn làm ra những chiếc bánh, ông cha ta phải xay lúa, xay nếp, giã gạo, nhồi bột, ép bánh, nắn bánh, nướng, hấp bánh…hầu hết các công đoạn đều làm thủ công. Bánh được gói bằng lá chuối xiêm, chuối tiêu, chuối hột, lá dừa, lá dong… và buộc bánh bằng dây lát, dây chuối hoặc lạt tre; nấu bánh bằng nồi đất, lò đất, chụm củi…Nhờ vậy mà khi thưởng thức, chúng ta mới khám phá được hương vị tự nhiên, màu sắc và nét tinh tế của từng loại bánh.

Tuy nhiên, hiện nay, bánh tét, bánh ú, bánh lá dừa, nem, thậm chí cột thịt kho, bó giò heo cũng dùng dây ny-lông (nhựa dẻo) để buộc cho nhanh và tiện. Thậm chí có người còn cho nguyên liệu vào túi ny-lông để gói nem, bì, giò chả. Ngay cả bánh ít cũng cho bột vào túi ny-lông trước khi bao lá chuối bên ngoài. Chiếc bánh vì vậy đã mất đi mùi vị tự nhiên, dân dã vốn có. Đấy cũng là điều đáng suy ngẫm ngầm.

PHÚC LỘC

 

;
.
.
.
.