Giao thừa xin lửa Thành hoàng - Nông Thôn Việt

Giao thừa xin lửa Thành hoàng

Thứ Tư, 21/02/2018, 11:35 [GMT+7]

Có lẽ dân làng Dầm (thôn Xâm Dương, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội) không ai có thể thấy cái Tết của mình đủ đầy nếu thời khắc giao thừa không đi xin được lửa mang về nhà.

Tục hay

Tôi là một trong số rất nhiều người không sống thường xuyên ở làng nhưng là con trai trong gia đình, với tôi, Tết về sum họp với cha mẹ, người thân và đêm giao thừa vào đình khấn Thành hoàng, xin lửa đúng khoảnh khắc chuyển giao năm cũ, năm mới là những giá trị thiêng liêng nhất.

Mỗi năm một lần được về lễ Thành hoàng, được gặp lại cộng đồng, được nhìn không khí Tết ấm cúng, và được hồi hộp đi trong gió, có khi trong mưa rét để giữ lửa từ đình về nhà, với người dân Xâm Dương là điều thật hạnh phúc.
Mỗi năm một lần được về lễ Thành hoàng, được gặp lại cộng đồng, được nhìn không khí Tết ấm cúng, và được hồi hộp đi trong gió, có khi trong mưa rét để giữ lửa từ đình về nhà, với người dân Xâm Dương là điều thật hạnh phúc.

Đã nhiều năm rồi, cảm giác được gặp bạn bè, hàng xóm và nhìn thấy những gương mặt đã già hơn, những gương mặt mới trẻ hơn mình cả chục tuổi đứng chật sân đình trước lúc giao thừa luôn để lại trong tôi cảm giác ấm cúng, thú vị lạ thường. Không ít người trong số đó là anh em, họ hàng, làng xóm ngày ngày gặp mặt nhưng cũng không ít người là bạn cũ, là người thân quen nhưng đây là thời điểm duy nhất trong năm gặp lại nhau.

Gặp nhau, bắt tay, hàn huyên trong khi chờ trống đình vang lên báo hiệu năm mới tới và mọi người được châm lửa mang về. Sự hân hoan, chia sẻ cũng có khi chỉ là cái bắt tay chúc mừng năm mới vì ai cũng vội mang lửa về nhà mình cho kịp xông đất.

Theo nguyên tắc thì vào đình xin lửa chỉ có đàn ông, nhưng ngày nay cũng có ít nhiều nữ giới tham gia sự kiện này. Họ là mấy cô gái trẻ háo hức đi theo bố, anh trai hoặc chồng. Tuy nhiên họ cũng chỉ được ở vòng ngoài và khi mang lửa về nhà, họ cũng không được vào nhà cùng lúc với người cầm đuốc.

Ở một số gia đình kỹ tính, người được giao trọng trách xin lửa Thành hoàng có khi phải là người đàn ông trong nhà có tuổi hợp để xông đất. Thế nên năm nào không đủ điều kiện thì nhiều nhà không có người đi xin lửa cho dù rất muốn.

Điểm đáng lưu ý là ngọn lửa luôn phải được châm từ ngọn nến thắp lên từ lửa trong cung của Thành hoàng, được các cụ cao tuổi rước ra gian giữa đình. Sau khi đồng hồ báo điểm giao thừa tới và nghi thức tiến lễ Thành hoàng hoàn tất.

Như thế việc xin lửa đã vắt qua hai năm và việc chuẩn bị bó đóm, đuốc là công việc vô cùng quan trọng bởi vì ngoài việc châm lửa từ đình, người ta không thể xin lửa từ người khác, đó là điều kiêng. Nếu ai đó để tắt lửa trên đường về sẽ rất áy náy vì tâm lý đã mang lại một năm kém may mắn cho bản thân và gia đình. Vì vậy, cũng có nhiều người mang sẵn một nắm hương đi xin lửa, họ quan niệm như thế vừa thiêng vừa an toàn. Tuy nhiên những bó đóm, bó đuốc vẫn được ưu tiên hơn bởi nó rực rỡ, ấm cúng.

Ngọn lửa xin từ Thành hoàng mang về nhà thường được dùng để đốt hương thắp lên bàn thờ gia tiên, được châm vào đèn dầu để trên bàn thờ suốt mấy ngày Tết. Trước kia thì được châm vào bánh pháo giao thừa, mang vào bếp châm lửa đun nấu thức ăn rồi sau đó cứ được để cháy tự nhiên trong sân nhà cho đến khi lụi. Cứ như thế, sau ánh lửa ấm cúng là những gia đình đoàn viên, hạnh phúc và niềm hi vọng vào một năm mới may mắn…

Làng cổ

Làng tôi không làm nghề nông mà người dân sống chủ yếu bằng nghề buôn bán và nghề thủ công đan tre nứa. Từ xưa cư dân nơi đây thường xuyên lên tận mạn ngược để mua tre, nứa, gỗ… rồi thả bè trôi xuôi sông Hồng về làng, vừa cung cấp nguyên liệu làm nghề vừa buôn bán với cư dân nội thành và các vùng lân cận.

Chúng tôi lớn lên bên con sông lớn hằng năm bồi đắp phù sa cho cây cối tốt tươi nhưng cũng mang tới lũ lụt, ngập ngõ, ngập nhà. Gọi là làng Dầm vì từ xa xưa, cây dầm (tên gọi khác theo tiếng địa phương của chiếc mái chèo) luôn là vật dụng quan trọng, không thể thiếu của mỗi gia đình ở đây. Chiếc mái chèo để bơi bè tre, bè gỗ phục vụ việc kinh doanh hoặc để bơi mảng, một cái bè nứa nhỏ vốn là phương tiện lưu thông chủ đạo trong mùa nước sông lên.

Đan lát cũng là thế mạnh của làng nghề Xâm Dương đến nay có trên 300 tuổi này. Thế hệ trước truyền cho thế hệ sau, đan lát những lúc nông nhàn. Sản phẩm của làng tinh, đẹp và có tên tuổi ngay từ những năm nửa đầu thế kỉ XX, được trưng bày tại cuộc đấu xảo tại Pháp. Sản phẩm mây tre đan của Xâm Dương không chỉ có mặt ở thị trường trong nước mà đã xuất khẩu sang nhiều nước như Liên Xô, Tiệp Khắc trước đây và nay là các thị trường Mỹ, Nhật, Nga, Pháp, Singapore...

Sản phẩm của làng hiện có tới trên 800 loại. Để tạo ra sản phẩm, người làm nghề phải qua rất nhiều công đoạn, bước đầu tiên là chọn nguyên liệu (nứa, tre, giang...) từ rừng sao cho đủ độ tuổi thì mới đẹp, mới bền. Pha nan cũng là một nghệ thuật. Nan không được có mắt sâu, được chẻ mỏng, dẻo, sau đó được chuốt lại cho trơn. Khi đan, không có múi lộ ra ngoài, các đoạn gấp uốn không gãy, không thô, sản phẩm hoàn thành phải cân, đều và đẹp mắt. Công đoạn sau cùng là quét lên sản phẩm một lớp sơn mài hoặc quang dầu để tạo độ bóng đẹp và chống ẩm mốc.

Làng Xâm Dương gồm ba xóm, hai xóm ngoài đê sông Hồng bao quanh ngôi đền Dầm thờ mẫu Thoải đệ tam và một xóm trong đê quy tụ quanh ngôi đình bề thế. Đình Xâm Dương là một ngôi đình lớn có niên đại thế kỷ XIX. Tòa đại đình với những hàng cột lim có đường kính tới 50 cm, kiến trúc chồng rường với những nét chạm khắc mạnh mẽ và dứt khoát.

Đặc biệt cổng nghiêm đình có bốn cột trụ biểu vuông vức đồ sộ đắp hình hình trúc lâm thất hiền uy nghi, bề thế. Đình thờ đức Thành hoàng có mỹ hiệu là Kiến Quốc Hùng Cơ, tương truyền là con vua Hùng, có công cùng Sơn Tinh đánh Thục. Đình còn giữ được 20 đạo sắc phong trong số 28 đạo (Trần triều 7 đạo, Lê triều 13 đạo, Nguyễn triều 8 đạo), nhiều hiện vật tế từ thời Lê, thời Nguyễn, đặc biệt là có cây đa ước tính đã 800 tuổi. Đình đã được Bộ Văn hóa – thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa vào năm 2002.

Đến nay cũng chưa có cuốn sách hay công trình nghiên cứu nào ghi lại tục lệ rước lửa đêm giao thừa này và cũng chưa thấy ai kể lại khúc chiết chuyện này. Vả lại, tôi cảm thấy không mấy người quá coi trọng việc giải thích một cách hàn lâm, sách vở mà trên hết, trong tâm thức của mỗi người, đây vừa là di sản cần lưu giữ vừa là tinh hoa cần truyền lại cho thế hệ sau như giữ cho ngọn lửa không được tắt.

PHẠM TIẾN DŨNG

 

;
.
.
.