Tháng 09 nhớ về một xóm nhỏ - Nông Thôn Việt

Tháng 09 nhớ về một xóm nhỏ

Thứ Sáu, 07/09/2018, 10:32 [GMT+7]

Hình như lần đầu tôi “nghĩ” về xóm nhỏ ấy khi gặp đạo diễn Đặng Nhật Minh tại nhà ông Vĩnh Mẫn. Anh vô Huế dự lễ giỗ cụ Lạc Viên ở thôn Lại Thế… Đặng Nhật Minh thì quá nhiều người biết, biết cả thân phụ anh là Giáo sư - Anh hùng - liệt sĩ Đặng Văn Ngữ đã hy sinh trên đường Trường Sơn năm 1967. Có điều tôi bất ngờ khi biết cả hai bà Ngọc Toản, Ngọc Trai đều là dì ruột của anh vì tôi có “duyên” từng quen cả hai “tiểu thư” thuộc dòng dõi Tôn Thất, từng là cựu nữ sinh Đồng Khánh Huế…

Chỉ vậy thôi, cuộc sống sôi động của đất nước còn bao nhiêu đề tài đáng quan tâm hơn chuyện xưa của một gia đình quan lại Triều Nguyễn…! Cho đến gần đây, tôi có dịp gặp lại hai “cụ bà” Ngọc Toản - Ngọc Trai khi vô Huế tổ chức lễ giỗ cụ Thượng Lạc Viên Tôn Thất Đàn (1871 - 1936); hơn thế, tôi như đã được “gặp” toàn bộ cả trăm người gồm vợ - con - cháu - chút - chít của cụ qua bộ sưu tập gia đình vừa hoàn thành…

Thôn Lại Thế, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế
Thôn Lại Thế, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế

***

Lối về Lại Thế, như Đặng Nhật Minh đã viết trong bài “Quê Mẹ”:

“… Đi qua Đập Đá, về Vỹ Dạ, rẽ vào đường Tùng Thiện Vương, rồi đi tiếp đường Thanh Tịnh qua chiếc cầu xi măng bắc qua con kênh nhỏ là đến quê mẹ tôi…”

Sau ngày giỗ cụ Lạc Viên, tôi đã về Lại Thế theo con đường này. Xóm nhỏ, từ cầu Ông Thượng đến cổng nhà thờ Lạc Viên, yên bình trong nắng nhẹ đầu hạ. Đường xưa, nay đã được mở rộng, đổ bê tông, duy cổng nhà cụ Thượng quyền uy một thời, nay trông quá khiêm nhường so với thành lũy nguy nga của nhiều biệt thự đang mọc lên khắp nơi. “Dinh cơ” phía trong còn khiêm tốn hơn…

Nhưng thôi, cả thế kỷ đã qua với “bao cuộc bể dâu”… Tôi đứng lặng chốc lát giữa khuôn viên đầy cây trái ngày xưa, nay chỉ còn cây vải thiều trĩu quả, nhìn bầy chim sẻ ríu rít gọi nhau bay lên, bỗng nghĩ tới đàn con cháu đông đúc của cụ Lạc Viên đã tung cánh bay xa…

Ngay khi chính quyền cách mạng đang như “nghìn cân treo sợi tóc”, theo lời kể của thầy giáo Tôn Thất Lôi thì “Anh em chú cháu chúng tôi đều hăng hái xếp bút nghiên lên đường tranh đấu.

Cháu Tôn Thất Điệp con anh Cả chúng tôi và cháu Võ Tá Lâm con trai độc nhất của chị Tham Vinh gia nhập Trung đội I. Chú Tôn Thất Long gia nhập Trung đội 9. Tôi sức khỏe yếu, bị loại. Buồn quá, tôi về làm đơn khác và bắt chú Long đi khám thay nên được gia nhập Trung đội 11… Tập luyện một thời gian, chúng tôi được lệnh chuyển vào Nam tham gia kháng chiến…”

Theo hồi ức của nhà phê bình Ngọc Trai thì cả 4 người ra mặt trận, không là liệt sĩ cũng thành thương binh:

“… Anh Lôi, anh Long đều bị thương về nằm bệnh viện Huế rồi xuất ngũ. Điệp hy sinh ở chiến trường Nam Trung bộ, được công nhận liệt sĩ, nhưng chưa tìm thấy mộ. Lâm bị bắt làm tù binh, bị đày ra Phú Quốc, sau được trao trả tại cầu Thạch Hãn… ”

Các tiểu thư cũng chẳng chịu “thua” giới “mày râu”. Ngọc Toản lúc đó mới 15 tuổi, nhưng đã tham gia Ban Quân y và khi tiễn các đoàn quân Nam tiến, cô cùng hai bạn gái đã trốn lên tàu để được đi chiến đấu, nhưng đến Quảng Ngãi, một vị chỉ huy buộc phải quay về. Trở lại Huế, “ba lần bị Pháp bắt giam do quá năng nổ trong phong trào học sinh ở Huế… Cuối cùng bị Pháp trục xuất khỏi Huế. Nhưng… Toản nhất định ở lại hoạt động…” Thế là gia đình đành phải gọi về, gửi cô lên chiến khu…

“Tiểu thư” Tôn Nữ Thị Lưu là người đầu tiên trong con cháu cụ Lạc Viên ra vùng tự do Khu Bốn từ năm 1946. Cụ Lạc Viên không chỉ có hai người con rể tài danh là Anh hùng - liệt sĩ Đặng Văn Ngữ và Trung tướng Cao Văn Khánh; anh Nguyễn Văn Thao, chồng chị Lưu, sinh trưởng tại làng Triều Sơn Tây ở phía Bắc Huế, cũng là người nổi tiếng từ thuở học trò.

Nhắc đến 3 chàng rể thuộc loại tinh hoa đất Huế, cứ nghĩ không biết cái xóm nhỏ ấy có sức hút gì đặc biệt. Đó là chưa nói đến Giáo sư Nguyễn Hồng Phong, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, phu quân của bà Ngọc Trai….

Thôn Lại Thế, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế
Thôn Lại Thế, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế

Nguyễn Văn Huy, con trai cả của anh Thao - chị Lưu, cho biết: Anh Thao đỗ đầu bằng Thành chung Quốc học Huế, ra học Trường Bưởi, đỗ tú tài, trở về Huế dạy trường Thuận Hóa rồi thi vào khoa Canh nông (Đại học Đông Dương). Ngay sau Cách mạng Tháng 8, “anh lao ngay vào công việc cấp bách thời bấy giờ ở Trung bộ là kiểm kê, sắp xếp lại tài sản thu hồi của chế độ cũ, xây dựng bước đầu cơ sở kinh tế của Nhà nước cách mạng”. 

Sau một thời gian đảm nhiệm chức vụ Giám đốc kinh tế Trung bộ, rồi Giám đốc kinh tế Liên khu IV, năm 1960, anh được cử làm Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ... Anh qua đời năm 1983 và đã được tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì…

Chị Lưu lại là một tấm gương về sự chịu thương chịu khó và cả hiếu học khi anh Thao luôn công tác xa nhà, một mình nuôi hai con nhỏ nơi đất khách quê người. Nguyễn Văn Huy đã viết về người mẹ như sau:

“… Năm 1951, Mạ tôi bị ốm nặng, may mà Ba tôi về kịp đưa ba mẹ con tôi lên Việt Bắc đoàn tụ… Ở chiến khu Việt Bắc, Mạ tôi làm công tác chuyên môn ở Viện Nghiên cứu Penexilin do cậu tôi là bác sĩ Đặng Văn Ngữ làm Viện trưởng…” Khi đất nước hòa bình, dù đã cao tuổi, chị vẫn đi học và đã tốt nghiệp Đại học… Chị đã vận động lập Quỹ khuyến học ở Triều Sơn Tây và Di chúc dành phần lớn tiền tiết kiệm cho Quỹ này…

Hai “tiểu thư” Ngọc Toản - Ngọc Trai thì lại “Bắc tiến” theo lối khác. Chuyện Ngọc Toản lên chiến khu Dương Hòa rồi cùng đoàn cán bộ Thừa Thiên vượt U Bò, Ba Rền ra Khu Bốn, lên Việt Bắc học Trường Y khoa rồi tổ chức đám cưới “vô tiền khoáng hậu” tại hầm De Castrie với “chiến tướng” Cao Văn Khánh thì nhiều sách báo đã kể.

Còn chị Cung - theo Đặng Nhật Minh nhớ lại - đã âm thầm “Bắc tiến” trong một hoàn cảnh đặc biệt:

“…Một buổi tối đầu năm 1950, một cơ sở bí mật trong thành phố đã chuyển đến mẹ tôi thư của cha tôi viết từ Việt Bắc… Vậy là vào một ngày đã định, mẹ tôi cùng 3 anh em chúng tôi xin phép ông bà cùng họ hàng bên nội, lên xe kéo về quê ngoại ăn kỵ. Thực ra không có kỵ giỗ nào cả. Ngay khuya hôm sau, 3 du kích đến đón 4 mẹ con chúng tôi đi. Tôi và mẹ tôi đi bộ, còn hai em gái tôi có người cõng trên lưng…”

Bốn mẹ con, với “lá bùa hộ mệnh” là giấy giới thiệu của Ủy ban Kháng chiến tỉnh Thừa Thiên với nội dung: “Bà Tôn Nữ Thị Cung trên đường đi gặp chồng là bác sĩ Đặng Văn Ngữ, đề nghị các cấp địa phương hết lòng giúp đỡ”, đã tới được Chiêm Hóa (Tuyên Quang), sau 3 tháng lặn lội đường xa ngàn dặm với đủ mọi gian truân vất vả…

Một thời gian ngắn sau đó, mẹ con chị Ngọc Trai cũng “Bắc tiến” theo tiếng gọi của tự do. Chị Ngọc Trai nhớ lại:

“…Mật thám lại lập danh sách bắt tôi lần thứ hai… Các anh lãnh đạo thành phố bàn cho tôi ra Khu Bốn tiếp tục đi học… Tỉnh có cho hai dân công, phòng lúc mẹ không đi được thì cáng. Nhưng mẹ chỉ nhờ dân công mang cái ba lô nặng…”

Nếu xem những đoàn quân xuôi ngược theo mùa chiến dịch như dòng chảy lớn của lịch sử thì các chuyến “Bắc tiến” lặng lẽ mà không thiếu kiên cường của con cháu cụ Thượng Lạc Viên như là các vi mạch đặc biệt trong huyết quản của cơ thể đất nước. Đặng Nhật Minh không ngại gọi chuyến đi của thân mẫu mình là một chiến công.

Và có lẽ hơn cả “chiến công” vượt khó khăn nguy hiểm; những chuyến đi ấy gợi nghĩ đến những giá trị cao quý: đó là là tình yêu Tổ quốc của người dân Việt, bất kể thuộc tầng lớp nào; là sức tập hợp nhân tài của những nhà cách mạng chân chính với chính sách “Đại đoàn kết toàn dân” của cụ Hồ, là sự chung thủy, tình nghĩa đồng bào chia ngọt sẻ bùi những lúc gian khó…

Trong “cái thuở ban đầu dân quốc ấy/ Nghìn năm chưa dễ mấy ai quên”, đâu chỉ có con cháu cụ Lạc Viên, mà còn biết bao người con ưu tú của dân tộc, cũng từ các ngõ phố, làng quê tiến ra đại lộ theo bước những đoàn quân một thời “xôn xao làng quê bé nhỏ…”(*) - những Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Lê Quang Long, Tôn Thất Hoàng… Danh sách “thế hệ vàng” khó kể đủ ấy cũng là “những giá trị” để lại cho hậu thế không thua gì chiến công…

* Lời bài hát "Bộ đội về làng" nổi tiếng thời chống Pháp.

Nguyễn Khắc Phê

;
.
.
.
.