Đám giỗ quê - Nông Thôn Việt

Đám giỗ quê

Thứ Sáu, 05/10/2018, 10:23 [GMT+7]

Lâu lắm mới đi đám giỗ ở quê. Dù Hóc Môn không xa trung tâm thành phố là mấy nhưng không khí khác xa với thành phố đầy bụi bặm, tiếng ồn, ít cây xanh và nắng nóng. Còn tấm lòng người dân quê thì mộc mạc, chân chất khiến trong người nghe thư thái, nhẹ hẳn.

Buổi chiều chỉ là mới cúng tiên thường, ngày mai mới là chánh giỗ nhưng không khí đã rộn rã. Đầu kia, nhóm đàn ông đang mổ thịt con heo. Đầu nọ là nhóm đàn bà đang lui cui nấu những món cúng tiên. Góc đông vui nhất là nhóm thiếu nữ lặt rau, gói bánh. Ở nhóm nào cũng có người già, kẻ trẻ, có một cuộc chuyển giao thế hệ rõ ràng với những câu nói trìu mến, răn dạy, pha chút hài hước như: Ráng học làm đi con, mai mốt về làm dâu, làm rể nhà người ta, không biết mần, họ uýnh cho u đầu… 

Cúng tiên thường gọn nhẹ, ai nhậu mặc ai, ở góc bếp gia chủ đã sắp xếp ai, việc gì ngày mai phải làm cho chu tất. Nói chung các món ăn chính đều đa phần đã được chuẩn bị sẵn. Có thứ thì đã nấu sơ, mai hâm lại cho chín. Tất cả chỉ để ngày mai khoảng 9 giờ là có đồ cúng. Ở quê, 10 giờ là cúng xong, 10 giờ 30 là nhập tiệc. Về khoảng thời gian này, người ở phố thường kéo dài. Có đám 12 giờ trưa, khách đến đầy nhà rồi, mà gia chủ vẫn cúng chưa xong. Thôi thì chịu khó chờ, chứ chẳng lẽ giận!

Đám giỗ thời nay ở phố thường đặt người ta nấu sẵn mang đến. Ở quê, đám giỗ thường do trong nhà nấu. Cách ẩm thực lưu dấu nền văn minh lúa nước có thể thấy qua đám giỗ quê. Đám giỗ quê, thực phẩm thường do gia chủ sẵn có: cá dưới ao; gà, heo trong chuồng. Trước vài tháng gia chủ đã tính con heo này, bầy gà kia dành cho đám giỗ. 

Mâm cúng giỗ miền Nam
Hình minh họa

Cúng gì trên bàn thờ ông bà? Theo các ông bà xưa kể lại: Ưu tiên một là món người đã khuất thích. Món ấy có thể là chân giò, cá chưng tương… chẳng hạn. Các món còn lại buộc phải có trên bàn cúng là cơm và trứng luộc, thịt heo luộc, gà luộc còn để nguyên con và dĩa xôi. Nhà nghèo quá chỉ cần chén cơm cúng, quả trứng luộc, hương, đèn, ly nước, ly rượu, bình bông là đủ lễ. 

Nói vậy chứ, ở quê nghèo cách mấy cũng dành dụm để đến ngày giỗ cha ông có mâm cúng tươm tất. Những món ăn thường thấy trong đám giỗ theo phong cách xưa ở Nam bộ là cơm cùng với thịt kho hột vịt, khổ qua hầm thịt, gỏi ngó sen tôm thịt, cà ri gà, xôi gà, tôm nướng, cá chưng tương, thịt nướng bánh hỏi, lẩu hải sản hay là lẩu cá đồng. Bánh trái không thể thiếu là bánh tét, bánh ít, bánh xếp. 

Vào thập niên 1960, ở khu vực ngoại thành Sài Gòn, bánh xếp là loại bánh dễ làm, ăn ngon, hầu như đám giỗ nào cũng có, làm bằng bột khoai mì. Món này là món khai vị, lót bụng chút đỉnh để uống rượu. Bánh có nhân tôm, thịt, đậu xanh, là món mở đầu lót dạ. Gắp một cái bánh bỏ vào chén, thêm một chút rau thơm, chan một ít nước mắm chua ngọt, nhai từng miếng nhỏ, nghe vị tôm, vị thịt, vị đậu, vị bột… thấm gì đâu. Nhất là đám trai trẻ nhớ khi nãy cái bánh này do cô út xinh đẹp, tay trăng trắng mềm mại xếp thì… độ ngon còn tăng lên gấp bội như nghe thơm mùi tay thiếu nữ!

Món thứ hai là cà ri gà. Gà nấu cà ri lựa gà già một chút cộng với khoai lang, khoai môn, nước cốt dừa. Đám giỗ nào cũng nấu nồi cà ri thiệt lớn. Món này dễ ăn, con nít đông dọn cho chúng vài mâm riêng, cà ri là món chính với vài ổ bánh mì, đủ để con nít dằn bụng, lấy sức mà đùa giỡn. Còn người lớn, gắp miếng khoai, miếng gà chấm muối ớt nghe mùi khoai bùi, vị muối cay mặn, mùi gà… nhấp miếng rượu đế thiệt lớn, khà một tiếng là… người kế bên đủ say! 

Món thứ ba là thịt nướng. Người ta nói đám giỗ thành bại là do món này. Người được phân công nướng thịt là cũng phải “bậc thầy” vì nướng bên ngoài cháy, bên trong sống là không được. Nướng sao cho miếng thịt chín mềm, cháy cạnh nhưng ăn trong miệng nghe ngọt mùi thịt tươi, đậm đà hương gia vị ướp.

Thịt nướng nóng hôi hổi ăn với bánh hỏi, rau sống ngon một trời một vực so với thịt heo quay, vịt quay. Nơi nướng thịt thường là góc vườn ngoài trời xa bếp, ngon nhứt là mấy cha nướng thịt, mấy xâu thịt nướng đầu tiên là bưng vào cúng, còn lại mấy xâu đầu thừa đuôi thẹo xấu xí thì mấy chả lãnh cùng với chai rượu đế lai rai. Nướng xong phần thịt được phân công cũng là lúc mấy cha đủ tăng tăng, đỏ mặt lên bàn hết muốn ăn gì. 

Đám giỗ đâu chỉ là tổ chức ăn uống. Điều đầu tiên trọng yếu là nhớ đến hương hồn người đã mất, nhân tiện cúng cả tổ tiên, đất đai nhơn trạch… Thứ đến là tụ họp bà con, bạn bè, hàng xóm. Đám giỗ tưởng nhớ người xưa trở thành tiệc vui. Âu cũng là lẽ thường tình vì chẳng lẽ người mất, còn người sống thì… buồn hoài!

Đám giỗ rộn ràng từ chiều qua đến sáng, con cháu, bà con tề tựu đông vui. Nhắc chuyện xấu cho con phải sửa; gợi chuyện tốt của người này, người kia cho cháu học tập. Đám giỗ là nơi nhắc lại chuyện công đức, nết tốt của ông bà, người mất cho con cháu nghe và còn là nơi chăm chút thêm những duyên mới cho con cháu. Nhắc đứa cháu trai đến tuổi trưởng thành phải cố gắng có công ăn việc làm, phải lo chuyện lấy vợ, ổn định gia đình. Khuyên đứa cháu gái phải công, dung, ngôn, hạnh và đừng có kén chọn quá mà lỡ thì… 

Theo sách ông bà xưa để lại, tục cúng giỗ cúng đến 4 đời Cao, Tằng, Tổ, Phụ, nói nôm na theo kiểu người miền Nam là cúng đến đời ông bà sơ trở xuống ông bà cố, ông bà nội và cha mẹ. Mức độ giỗ lớn nhất thì giảm dần từ dưới lên trên: Cha mẹ cúng lớn, ông bà nội nhỏ một chút, ông bà cố nhỏ nữa và ông bà sơ nhỏ nhất. Tục lệ là vậy, nhưng nay đa phần chủ gia chỉ cúng đến đời ông nội. 

Ai ở nhà thừa tự (nhà thờ gia tộc) thì có trách nhiệm chính cúng giỗ. Người Nam thường là con trai út lãnh phần này. Phân trách nhiệm là vậy nhưng những người trong gia đình, dòng họ phải có trách nhiệm góp giỗ. Đó là vài con gà, vịt, vài ký thịt hay là một ít tiền để gia chủ mua sắm vật dụng cúng tổ tiên.

Người đi dự đám giỗ, đàn ông xưa thì xách chai rượu đế 3 xị, nay thì cắp nách thùng bia lon đến góp phần; đàn bà thường mang bánh ít, bánh tét, bánh bông lan… hay vài ký trái cây đang vào mùa. Gia chủ phải là người tiếp nhận các phẩm vật trên, để biết sắp xếp phần cúng trên bàn thờ, phần nào để nhà bếp mang lên vào lúc ăn giỗ, phần để biếu lại người đi dự.

Vì vậy mới có tiếng là giỗ quải, nghĩa là ăn giỗ xong còn có phần… quải về! Phần này đòi hỏi chủ gia phải có óc tổ chức sắp xếp. Người ta mang đến thứ này, thì quà tặng lại phải là thứ khác. Người ta mang đến nhiều, thì phần biếu lại cũng phải nhiều. Còn ai đi tay không đến cũng có quà, xem như chút lộc của gia chủ tặng. 

Nếu như cúng tiên thường chỉ là cúng nhẹ, chỉ người thân trong nhà, ngày giỗ chính ngoài người trong nhà còn có khách. Khách đây có thể là quan chức trong làng xã, đồng nghiệp, hàng xóm với gia chủ. Khách của cha rồi còn khách của con, thậm chí nếu gia chủ cao tuổi thì có cả khách của cháu. Đám giỗ là dịp hướng con cháu đến các giá trị tinh thần truyền thống gia tộc, ăn uống là chuyện phụ. Tuy là chuyện phụ, nhưng tổ chức ăn giỗ lại là… chính. Tổ chức mà bê bết coi chừng bị nhắc nhở hoài hoài từ món ăn, đến cung cách tiếp đãi. 

Ngày nay, đám giỗ đã thay đổi nhiều theo thời đại. Có đám giỗ ở phố chỉ một bàn chỉ dành cho người trong gia đình, cũng có đám giỗ cả 100 bàn đặt ở nhà hàng, chỉ có điều không khí của một đám giỗ quê xưa đã mất. Ối! Thời nào thức nấy, ở bầu thì phải chịu tròn chứ đôi khi dự tiệc giỗ ở nhà hàng mâm cao cỗ đầy, sang trọng mà vẫn thấy thua miếng thịt nướng, cái bánh xếp ở đám giỗ quê! Nhớ quá, thèm quá về quê ăn giỗ!

Nguyên An

;
.
.
.