Những nghề cổ đất Việt - Nông Thôn Việt

Những nghề cổ đất Việt

Thứ Ba, 12/12/2017, 11:55 [GMT+7]

Trải qua những thăng trầm của thời gian, những làng nghề truyền thống đã chứng tỏ được sức sống bền bỉ của mình, giữ gìn được những nét đẹp văn hóa của cha ông. Dưới đây là một số làng nghề nổi tiếng và duy nhất còn được người dân lưu truyền và tiếp nối trên mảnh đất trải dài của Việt Nam.

1. Làng "nồi đất"  ở xứ Nghệ

Theo VnExpress đưa tin, Trù Sơn là làng gốm có một không hai bởi đây là nơi duy nhất còn làm ra các loại nồi bằng đất ở xứ Nghệ. Vì thế, ngoài tên Trù Sơn, nơi đây còn được gọi là làng "Nồi Đất".

Mỗi một sản phẩm được hình thành gửi gắm biết bao tấm huyết, niềm đam mê và cũng đầy hy vọng của bà con làng gốm cổ Trù Sơn nơi đây - Ảnh: Quốc Đàn. Nguồn: Báo vietnammoi.vn
Nồi đất của bà con làng gốm cổ Trù Sơn. Ảnh: vietnammoi.vn

Làng nghề làm nồi đất duy nhất ở xứ Nghệ với những chiếc nồi đất Trù Sơn được làm hoàn toàn bằng tay chỉ với bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và những khoanh nứa mỏng để tạo dáng, làm nhẵn.

Tất cả công cụ làm gốm chỉ bao gồm một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ và những khoanh nứa mỏng để tạo dáng và làm nhẵn. 

Để có đất thích hợp, dân làng phải vượt cả quãng đường dài 7-10 km xuống xã Nghi Văn, Nghi Lộc hoặc lên tận Sơn Thành, Yên Thành để lấy. Vất vả, cơ cực là vậy nên người dân nơi đây gọi là nghề "bán xương, nuôi thịt”.

Các sản phẩm của làng gốm Trù Sơn đều được làm thủ công, yêu cầu sự khéo léo, điêu luyện, trong đó phần lớn công đoạn tạo thành sản phẩm đều do phụ nữ trong làng đảm nhận.

Những người phụ nữ Trù Sơn bao đời nay vẫn cần mẫn gắn bó với nghề gốm - Ảnh: Quốc Đàn. Nguồn: Báo vietnammoi.vn
Những người phụ nữ Trù Sơn bao đời nay vẫn cần mẫn gắn bó với nghề gốm . Ảnh: Báo vietnammoi.vn

Nếu gốm sứ Bát Tràng hay gốm sứ Hội An được dùng làm vật trang trí trong cung vua phủ chúa bởi vẻ cầu kỳ, tinh xảo đến từng chi tiết thì gốm Trù Sơn lại được dùng phổ biến trong đời sống hằng ngày như nồi, siêu dùng để đun nấu thức ăn, sắc thuốc, theo Trần Huyền (dẫn tin từ báo Việt Nam Mới)

Để làm ra một chiếc nồi đất hoàn thiện đòi hỏi nhiều công đoạn tỉ mỉ, nhưng mỗi chiếc chỉ bán với giá 1.000 - 5.000 đồng. Tuy vậy, người làm gốm Trù Sơn bao đời nay vẫn duy trì nghề, tạo thêm thu nhập lúc nông nhàn.

Không cầu kỳ, tinh xảo như gốm sứ Bát Tràng hay Hội An thường được làm vật trang trí trong cung đình, gốm Trù Sơn lại phổ biến trong đời sống hàng ngày với các sản phẩm như nồi, siêu.

Đến nay, trải qua bao thế hệ dù có lúc thăng trầm người thợ Trù Sơn vẫn mãi say nghề say đất, để giữ gìn nét đẹp truyền thống của làng nghề gốm cổ lâu đời cho con cháu mai sau.

2. Làng nặn tượng ông Táo duy nhất ở Thừa Thiên Huế

Cũng theo theo VnExpress làng nghề nặn tượng ông Táo ở làng Địa Linh (xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế) là nơi duy nhất ở xứ Huế có 5 hộ dân theo nghề làm ông Công, ông Táo.

Ông Táo sau khi đúc xong sẽ được mang đi phơi nắng cho khô ráo, rồi mang vào lò nung. Nguồn: Báo vnexpress.net
Ông Táo sau khi đúc xong sẽ được mang đi phơi nắng cho khô ráo, rồi mang vào lò nung. Nguồn: Báo vnexpress.net

Đầu tháng 7, tháng 8 âm lịch, dân làng bắt đầu đi mua đất sét sạch về chuẩn bị sẵn, rồi hối hả vào mùa sản xuất hàng vạn bức tượng ông Công, ông Táo từ những ngày đầu tháng 12 âm lịch cho tới giữa tháng Chạp.

Trong các công đoạn sản xuất ông Táo, khâu vẽ trang trí quyết định tính thẩm mỹ của bức tượng. Nguồn: Báo vnexpress.net
Trong các công đoạn sản xuất ông Táo, khâu vẽ trang trí quyết định tính thẩm mỹ của bức tượng. Nguồn: Báo vnexpress.net

 

Khuôn khắc hình ông Táo được đục từ gỗ lim.. Ông Táo sau khi đúc xong sẽ được mang đi phơi nắng cho khô ráo, rồi mang vào lò nung.  Các ông Táo được xếp trong lò và nung bằng vỏ trấu. Sau 2 ngày nung trong lò, tượng ông Táo sẽ được để nguội. Trung bình mỗi mẻ nung có hơn 2.000 bức tượng. Sau khi nung xong, các ông Táo được ngâm vào thùng sơn, rồi mang đi phơi khô. Trong các công đoạn sản xuất ông Táo, khâu vẽ trang trí quyết định tính thẩm mỹ của bức tượng. Ông Võ Văn Nam, một  hộ dân sản xuất ông Táo nhiều đời ở Địa Linh cho biết, mỗi năm gia đình ông sản xuất khoảng 50.000 bức tượng ông Táo, xuất đi các tỉnh; mỗi bức tượng có giá từ 500 - 1.000 đồng. 

Theo tín ngưỡng, cứ đến 23 tháng Chạp hằng năm, gia đình dù khá giả hay nghèo khó đều làm lễ cúng để đưa ông Táo về trời. Dịp này, người dân thường thay bộ ba tượng ông Táo mới lên bếp.

3. Gốm Bát Tràng

Với chí sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo của người thợ gốm, gốm cổ Việt Nam đã trở thành một loại hình nghệ thuật mang tính dân gian sâu sắc.

Gốm là một trong những phát minh quan trọng của tổ tiên ta từ ngàn đời nay, đồ gốm đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của nhân dân ta.

Cảnh đồng quê cổ việt xưa chụp tại làng Bát Tràng (Ảnh: Trithucvn.net)
Cảnh đồng quê cổ việt xưa chụp tại làng Bát Tràng (Ảnh: Trithucvn.net)

Theo nhận định báo Trí Thức VN, Gốm cổ truyền Việt Nam đã có cách đây sáu, bảy ngàn năm. Gốm xuất hiện trong những di chỉ thuộc văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Hạ Long... Đến nay đồ gốm cổ truyền nước ta đã có những bước phát triển cao và hết sức phong phú.

4. Thêu Văn Lâm

Theo Trí thức Việt Nam, làng Văn Lâm nằm cạnh khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, là một trong những làng nghề thêu truyền thống ở Việt Nam, đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, nhưng đến nay nghề thêu vẫn được duy trì.

hêu Văn Lâm. (Ảnh qua ecotravel.vn)
Thêu Văn Lâm. (Ảnh qua ecotravel.vn)

Sinh ra ở vùng non nước sơn thủy, người thợ mang trong mình sự hài hòa của thiên nhiên với con người. Họ đã truyền vào những bức tranh thêu chính cái cảm xúc đơn sơ, mộc mạc và đầm ấm ấy. Một bức thêu là sự kết tinh của cái khéo léo, tỉ mỉ, tinh tế, cũng như sự trải nghiệm của người nghệ nhân. Tâm hồn của người dân Văn Lâm nằm cả trong đó.

Ngay từ khi còn bé, những đứa trẻ Văn Lâm đã được tiếp xúc với nghề thêu. Trong khi quấn quýt bên bà, bên mẹ, các em được hướng dẫn làm những việc đơn giản nhất: phụ mẹ rút chỉ, nhìn cách đưa kim… Bởi vì thêu có kỹ thuật đa dạng, lại có thể chia công đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ khó đến dễ, nên nghề đã dần thẩm thấu vào lũ trẻ lúc nào không hay. Và cứ như vậy, truyền thống được tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Lớp trẻ tiếp nối nghề thêu. (Ảnh qua vanhien.vn)
Lớp trẻ tiếp nối nghề thêu. (Ảnh vanhien.vn)

Thêu cũng có nhiều kỹ thuật. Có thêu nối đầu, thêu đâm sô, thêu bó, v.v. Thêu nối đầu là thêu nối tiếp mũi chỉ, mũi sau nối vào mũi trước, mỗi mũi chỉ dài ba đến năm li, với những nét uyển chuyển trên hình thì đường thêu phải ngắn hơn, để đường uốn lượn không bị gãy khúc. Chỉ với một bức thêu đơn giản, người thợ cũng phải dùng tới mấy chục loại chỉ sắc độ khác nhau và phải tuân thủ tuyệt đối các mẫu màu theo tiêu chuẩn, từ đó mới tạo nên được những bông hoa, những chiếc lá sống động trên nền vải.

Tranh thêu tay cũng là một phần trong văn hóa truyền thống của người Việt. Nhưng những nghệ nhân đang già đi, và thế hệ trẻ ngày càng ít người đam mê gìn giữ nghề truyền thống. Đây là trăn trở của người dân Văn Lâm, và của những ai yêu mến nghệ thuật thêu truyền thống…

5. Tinh hoa nghề khảm xà cừ 

Theo báo Đà Nẵng, khảm xà cừ hay cẩn xà cừ là một nghề thủ công lâu đời của người Việt. Trước đây, hầu hết các sản phẩm khảm trai được sử dụng trong cung đình và ở các nhà giàu có. Sau một thời gian dài vắng bóng, đến nay khảm xà cừ đang dần trở lại vị thế của mình...

Chất liệu xà cừ thông thường được lấy từ trai, ốc nên khảm xà cừ còn được gọi là khảm trai hay khảm ốc. Vỏ trai được ưa chuộng là loại vỏ của trai ngọc môi vàng, có kích thước lớn, mặt trong có lớp xà cừ dày, màu óng ánh. Người thợ khảm trai dùng những mảnh vỏ trai để khảm (gắn) lên các đồ vật. 

Nghề khảm xà cừ xưa. (Ảnh theo Pinterest)
Nghề khảm xà cừ xưa. (Ảnh theo Pinterest)

Hiện nay, công đoạn khắc thủ công có thể thay thế bằng máy khắc laser và các loại máy móc hỗ trợ khác, song việc cẩn các mảnh xà cừ và hoàn thiện sản phẩm vẫn không thể thiếu được đôi bàn tay của nghệ nhân.

Anh Phạm Lộc, chủ cơ sở Mộc mỹ nghệ Mai Lộc (Đà Nẳng) cho biết, trải qua thời gian, các vật dụng được khảm xà cừ của cha ông ta từ nhiều thế hệ trước đến nay vẫn còn nguyên giá trị về thẩm mỹ và văn hóa. Nhờ đó, khi kinh tế phát triển, người dân có nhiều cơ hội mua sắm, trang hoàng nhà cửa thì không quên các loại vật dụng có khảm xà cừ.

Khảm xà cừ chữ Tâm. (Ảnh theo khamoccom)
Khảm xà cừ chữ Tâm. (Ảnh theo khamoccom)

Trong vòng 3 năm trở lại đây, các loại vật dụng có khảm xà cừ được ưa chuộng trở lại. Tuy nhiên, theo anh Lộc, thời gian 3 năm mới đủ để một người chưa biết gì về khảm xà cừ học thành thợ. Chính vì thế, nhiều cơ sở khi nhận được những hợp đồng lớn thì phải “thắp đuốc” đi tìm thợ hoặc đành phải nuối tiếc từ chối.

Minh Tâm (Theo VnExpress,  Đà Nẵng, Trí thức VN)

;
.
.
.
.