Về làng Chảy - Nông Thôn Việt

Về làng Chảy

Thứ Năm, 24/10/2019, 08:16 [GMT+7]

Ấn tượng sâu sắc của chúng tôi về ngôi làng cổ Ước Lễ (tên Nôm là làng Chảy, thuộc huyện Thanh Oai, Hà Nội) đã bắt đầu ngay từ khi còn chưa bước chân vào làng. Ấy là bởi vì làng Ước Lễ có một chiếc cổng làng quá đẹp...

Cổng làng Ước lễ mặt trước.
Cổng làng Ước lễ mặt trước.

Lịch sử 500 năm trên cổng làng

Một chiếc cầu gạch nhỏ cong cong duyên dáng, bắc qua con mương nhỏ dẫn đến cổng làng. Lối lên cầu và hai bên cổng viền đầy hoa thanh táo tím nhạt, nổi bật trên nền gạch rêu phong. Có lẽ không có nhiều làng quê Việt Nam có được chiếc cổng làng uy nghi, đẹp đẽ như thế. Nhìn qua, người ta không khỏi nhớ đến lối kiến trúc kinh thành. Tương truyền, thời nhà Mạc, từ hơn 500 năm trước, một phi tần đã về xây dựng cổng làng. Đây có thể là lý giải cho chiếc cổng làng rất mỹ thuật này chăng?

Tất nhiên, sẽ không lầm vào đâu được, khi nhìn rõ ba chữ đại tự sắc sảo trên trán cổng: Ước Lễ Môn (约 禮 門). Trên gác cổng, dưới vòm mái cong vút hình đuôi lân còn một tấm biển sơn son thếp vàng ghi dòng chữ “Mỹ tục khả phong”, nghĩa là “Phong tục hay nên theo”.

Mặt trước cổng làng có đôi câu đối chữ Nôm Hán tả thực về cảnh người ngựa tấp nập qua cầu, qua cổng vào làng buôn bán làm ăn phát đạt (Thâm nghiêm kín cổng cao tường, thương cổ nguyện tàng kỳ thị / Xôn xao trước thầy sau tớ, mã xe phục quá thử kiều) gắn liền với tích “Thiểu Cao Đại” được ghi trên mặt sau của cổng.

Đây là một cách nói ý nhị, chơi chữ của người làng, đại ý là tất cả người nhỏ bé, to lớn, xe ngựa… đi qua đều thuận tiện. Điều thú vị nhất là 3 chữ “Thiểu Cao Đại” lại được “ẩn” ra phía sau chứ không viết ngay trên trán cổng thay chữ đại tự “Ước Lễ Môn”. Bằng chữ viết và ngữ nghĩa của đối liên này, có thể suy ra rằng chữ trên cổng được viết sau này khi mà chữ Nôm phát triển, chứ không phải đã có ngay từ thời kỳ đầu vương phi cho lập cổng.

Cổng làng Ước lễ mặt sau.
Cổng làng Ước lễ mặt sau.

Người làng cũng cho rằng vương phi nhà Mạc cũng chính là người truyền nghề làm giò chả cho dân làng. Để rồi cứ thế, cha truyền con nối, danh tiếng làng giò chả Ước Lễ đã lan ra toàn quốc. Dù vậy, tên tuổi của bà không được lưu lại. Vì thế, không như nhiều làng nghề khác, Ước Lễ không có tục thờ tổ nghề.

Bước chân qua cổng làng, ngay dưới tán cây um tùm là quán chợ. Nắng sớm xiên xiên chiếu qua, hàng cột đổ bóng song song như những phím dương cầm. Chị bạn đi cùng bật cười khi nghe tôi thốt lên cái so sánh “lãng đãng” ấy, có lẽ vì ảnh hưởng câu chuyện vương phi.

Chợ họp sớm, tan cũng rất sớm, chỉ sau 8 giờ sáng đã quạnh quẽ, trống trải. Chỉ có chị lao công cần mẫn dọn dẹp, trước khi đẩy xe đi ngoái lại bảo tôi: “Giò chả không bán ở đây đâu, cô ạ. Giờ này người ta làm xong rồi, giò đã vớt, chả đã gói, đem đi chợ xa bán. Nhưng cũng ít người làm”.

Bí quyết làng giò chả: không làm điêu

Hơi có chút hụt hẫng, chúng tôi tha thẩn ra đình. Cụm di tích đình - đền - chùa - miếu của Ước Lễ đều nằm cạnh nhau, trong đó đình Ước Lễ đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia.

Không phải ngày tuần, nên đình đền đều vắng vẻ. Chúng tôi may mắn gặp được bác Nguyễn Thị Minh Nhật - 75 tuổi, từng là giáo viên tiểu học - niềm nở chỉ dẫn cặn kẽ về những gia đình vẫn còn làm giò chả ngay tại làng. Bà không quên dặn tôi, nếu muốn xem giã giò đúng lối xưa thì chỉ có thể đến nhà bác Bình bán bánh cuốn ở giữa làng. “Nhà ấy vẫn giã giò bằng chiếc cối đá xanh, nhưng mỗi ngày chỉ làm 1 - 2 cân để bán kèm bánh cuốn bữa chiều thôi. Còn độ dăm nhà khác trong làng vẫn làm giò chả thì đều dùng cối để xay thịt. Nhưng vẫn ngon lắm đấy”! - Bà cười ý nhị.

Ồ, thế thì câu ca dao “khéo thì thợ may, vụng tay chày cối” để nói về hai nghề truyền thống của làng, có lẽ đã lạc hậu với Ước Lễ rồi! Anh Mạnh, một trong số ít hộ dân Ước Lễ vẫn đang sản xuất giò chả ngay tại mảnh đất chôn nhau cắt rốn, nói với tôi: “Máy xay giờ đỡ cho chúng tôi công đoạn mất sức nhất là giã thịt. Thịt tươi ngon, chúng tôi gọi là thịt còn “sống”, thêm nước mắm tốt, giã xong gói lá chuối luộc thì thành giò. Trộn thêm gia vị, nướng hoặc rán lên thì thành chả. Đúng là giò sống xay ra không được quánh mượt bằng giã tay. Nhưng nếu kén được đúng thịt tươi ngon, dùng nước mắm tốt, không pha thêm bột vào để lấy dôi thì giò chả vẫn đảm bảo chất lượng. Nói chung, quan trọng nhất là không làm điêu thôi”.

Không giấu giếm bí quyết gia truyền, anh Mạnh cho biết, chị Xuân vợ anh phải đi chợ từ 3 giờ sáng để mua được thịt nạc mông của những con lợn (heo) vừa mổ xong, thịt sờ còn ấm. Nước mắm thì dùng nước mắm Cát Hải loại tốt. “Nghề giò chả cũng không khó. Nhìn nhau vài lần là biết làm, nhưng ăn nhau ở cái tinh mắt, biết nhìn vào màu thịt lúc xay, giã để gia giảm gia vị đúng lúc, đúng liều lượng. Cầu kỳ nhất là chả quế, vì phải làm lớp mặt chả bóng đẹp, màu sắc bắt mắt và phải nướng than hoa, phức tạp hơn làm giò hay chả rán”.

Lá chuối sau khi chọn lựa cẩn thận được dùng để gói giò chả.
Lá chuối sau khi chọn lựa cẩn thận được dùng để gói giò chả.

Một điểm khá đặc biệt là anh chị Mạnh - Xuân và nhiều người làng, khi được hỏi đều cả quyết rằng, họ vẫn làm ruộng. Nghề giò chả của làng, nói như anh Mạnh, là một cách dìu dắt nhau qua lúc khó khăn, bảo nhau kiếm sống. Muốn làm giàu, người làng đều phải đi lập nghiệp xa, ở những nơi đông đúc dân cư mới có thị trường tiêu thụ lớn.

Nói là vậy, nhưng để làm ra được những cây giò Ước Lễ gói nhiều lớp lá chuối, cắt ra có màu nâu hồng, “hút” dao, mặt giò nhiều lỗ hổng nhỏ… cũng không hề đơn giản. Cũng không dễ để có những cây chả quế ngon ở vị bùi của thịt nạc nướng, vị thơm cay của quế, chút ngọt dịu của mật ong, thơm nồng của hoa hiên. Hay những cây chả cốm đặc sản của mùa thu xứ Bắc), những cây chả bì sậm sựt lạ miệng, chả mỡ mộc mạc dễ ăn… Người làm nghề phải có sức khoẻ tốt để dậy sớm thức khuya, vừa khéo tay, vừa tài chịu nóng (như khi quay nướng ống chả trên lửa than hồng rực).

Nghề của làng, truyền thống “không làm điêu” dường như vẫn chảy trong li ti huyết quản những người con Ước Lễ dù đã đi lập nghiệp tận phương xa. Điều đặc biệt là người Ước Lễ khi mở cửa hàng thường lấy tên hiệu có chữ “Hương”. (Giống như người làng Cự Đà ra phố mở tiệm may luôn giữ chữ “Trạch” trong tên hiệu vậy). Chẳng biết đó có phải là một cách để thể hiện nỗi nhớ quê hay không.

Đối với những người muốn du lịch trải nghiệm, một điểm cộng của làng cổ Ước Lễ là tuy rất gần thành phố, nhưng vẫn giữ được cảnh quê yên bình và những người dân hiếu khách. Điểm bất tiện duy nhất có thể là bạn sẽ không tìm được chỗ ăn trưa, nếu không muốn… ăn vã giò chả; hoặc phải đợi đến bữa quà chiều là bánh cuốn với giò giã bằng tay của nhà bác Bình.

CẨM HÀ

 

;
.
.
.
.