Lý lẽ của người già - Nông Thôn Việt

Lý lẽ của người già

Thứ Ba, 10/04/2018, 11:03 [GMT+7]

Tất cả các xóm của làng tôi hầu như đều bắt đầu bằng chữ Tiến. Tên của xóm tôi là Tiến Mỹ. Xóm nằm sát chân của một ngọn núi vươn ra biển, tục gọi là Rú Rừng (thổ âm địa phương có nghĩa là núi rồng, tên chữ là Long Sơn). Làng tôi thuộc vùng bãi Ngang, một dải đất sát ven biển, giống như một cái cù lao kéo dài được bao bọc bởi con sông Hoàng Mai, mỗi đầu một cửa biển. Cửa biển làng tôi được gọi là Lạch Quèn.


Chúng tôi lớn lên, học hành rồi mỗi đứa một phương. Xóm nhỏ chỉ còn trong ký ức. Tôi thỉnh thoảng gọi điện về nhà, ái ngại: “Bố mẹ vào đây chơi với bọn con rồi ở trong này luôn, ở nhà bệnh tật, ốm đau ai chăm?”. Mẹ tôi đủng đỉnh trong điện thoại: “Bọn bay cứ lo bò trắng răng, ở nhà choa đã có bà con hàng xóm, không chết mô mà lo”.Huyền thoại kể rằng ngọn núi rồng quê tôi linh thiêng lắm. Ở chân núi ven biển có những cái ao nổi tiếng như ao tiên (nơi các nàng tiên xuống tắm), vũng Sao Sa (nơi sao trời sà xuống nhảy múa)…Trong lòng núi có chứa một kho vàng bạc châu báu trời dành sẵn cho dân làng với một điều kiện: Hễ ai sinh được mười người con trai thì gia đình đó sẽ mở được nắp kho báu… cho đến bây giờ chưa gia đình nào có đủ số lượng chàng trai để làm nên được điều kỳ diệu đó!

Tôi nghĩ bụng “bà con xóm làng so bằng những bệnh viện lớn và các phương tiện y học hiện đại”. Nghĩ thì nghĩ vậy nhưng không dám nói. Kỳ kèo mãi rồi mẹ tôi cũng lên tàu vào thăm con cháu. Mặc dù tìm mọi cách để vui lòng bà, nhưng rồi cũng tới ngày mẹ bảo: “Mẹ định sang tháng thì về, con ạ!”. Tôi bảo: “Ở đây sung sướng hơn ở quê sao mẹ cứ đòi về?”.

Mẹ tôi đặt ngay chén nước đang uống dở xuống bàn, nước mắt rơm rớm, giọng nhòe đi: “Những người già như mẹ sướng khổ không phải chuyện cái ăn, cái ở con ạ! Suốt ngày ngồi ru rú trong nhà, hàng xóm gặp nhau, mẹ chào họ chỉ khẽ gật đầu, không hỏi thăm được một tiếng. Người cạnh nhà không biết tên ai. Mấy bà già thèm trầu thèm thuốc, con cái chưa kịp mua cứ ngồi mà nhịn, xin ai? Hôm con cháu đi học về hỏi bà: “Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau là như thế nào hả bà?”.

Mẹ chẳng biết cắt nghĩa ra sao cho nó hiểu khi nó chưa hề thấy đèn dầu và bếp củi, hàng xóm láng giềng không ai qua ai bao giờ… Ở xóm mình đi vô đi ra gặp nhau chào hỏi từ xa. Ai đụng chuyện gì cả xóm chạy tới. Hồi cả làng chưa có một cái xe ôm, trong xóm ai bị bệnh tật thanh niên cứ cái đòn trên vai, cáng người bệnh bằng võng đi bộ 15, 16 km lên bệnh viện huyện là thường. Nhiều người trong xóm đi biển gặp bão chết, bà con cưu mang gia đình họ, thế mới sống được chứ…chả trách mấy bà ra thành phố thăm con chúng giữ riết không cho về, lúc về được đến xóm thở phào như vừa được thoát khỏi nhà tù”. Nghe mẹ nói, tôi ngồi chết lặng.

Cũng gần cả chục năm tôi mới có dịp về thăm quê. Vừa về đến đầu xóm, cả đàn trẻ con lau nhau, lít nhít chạy theo. Vẫn những ngõ xóm ngoằn ngoèo, mái ngói rêu phong, chợ chiều xao xác, mùi cá nướng bốc lên ngào ngạt khắp xóm. Cô dì chú bác nghe tôi về, người tạt vào hỏi thăm, người gửi cho con ốc, con ghẹ. Đêm đó ngồi bên bếp than mẹ tôi quạt sẵn, trước chiếu trải giữa nhà, bà con trong xóm kéo nhau đến chơi, trời lạnh, ai cũng co ro trong mớ quần áo ấm to đùng và hai bàn tay xuýt xoa quanh bếp lửa nói cười oang oang (Quê tôi ai cũng nói to). Căn nhà mẹ tôi sực ấm tình người.

Trời khuya xóm làng chìm trong cái lạnh giá của ngày giáp Tết. Ngọn rú rừng sừng sững đen thẫm bạt ngàn bóng thông. Tiếng sóng ngoài cửa biển dội vào ì ầm không dứt. Đã đi qua một quãng đường đời khá dài, đến bây giờ tôi mới nghiệm lại cái huyền thoại về “ý muốn của trời”. Về câu chuyện kho báu mà phải có đủ 10 chàng trai mới có thể mở được…, rằng bao đời nay người dân xóm làng tôi lúc nào cũng cần một sức mạnh cộng đồng.

Những người con trai đi ra biển câu con cá, kéo bè lưới, rong ruổi hàng tháng trời ngoài biển khơi bao la, lúc nào cũng cần phải có đôi, có cặp. Những người mẹ, người vợ ở nhà buôn bán con ruốc, con mắm cũng phải có hội có phường. Những lúc trái gió trở trời họ cũng phải nhờ cậy lẫn nhau. Còn một điều nữa, vâng, đó là nỗi chờ đợi khắc khoải khi chiều về, lúc trời nổi cơn giông tố, bao rủi ro bất hạnh ập đến, những người phụ nữ xóm tôi cũng cần phải tựa vào nhau để tiếp thêm sức mạnh, lòng kiên nhẫn trông ngóng từng chiếc thuyền trở về…

Những người già xóm tôi có lý riêng của mình khi đi đâu, ở đâu họ đều muốn trở về xóm nhỏ bình yên. Đặt địa vị mình khi tóc bạc da mồi có lẽ ý nghĩ của tôi cũng sẽ không khác họ.

HỒ TÚ ANH

;
.
.
.
.