Trái cây Việt cần gì? - Nông Thôn Việt

Trái cây Việt cần gì?

Thứ Tư, 10/01/2018, 10:46 [GMT+7]

Con số dự báo 3,5 tỷ USD giá trị xuất khẩu trái cây trong năm 2017 đã xác lập kỷ lục mới đồng thời khẳng định vị thế của trái cây trong “thế giới nông sản Việt”. Tại Hội nghị Thúc đẩy phát triển sản xuất, xuất khẩu trái cây được tổ chức tại Tiền Giang vào đầu tháng 12 vừa qua, con số này cũng khiến cho “những người trong cuộc” phải nhìn lại một cách tổng thể bức tranh ngành sản xuất trái cây.

Hầu như 600 đại biểu tham dự hội nghị đều thống nhất là dư địa phát triển ngành này còn rất lớn. Vấn đề “nóng” nhất là làm thế nào để Trái cây Việt tiếp tục xác lập các kỷ lục mới.

Quy hoạch, xây dựng chuỗi giá trị cây ăn quả

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Cục trưởng Cục Trồng trọt, khẳng định một việc vô cùng quan trọng là phải đổi mới công tác lập quy hoạch, trong đó ưu tiên tổ chức quản lý thực hiện quy hoạch cây ăn quả chủ lực theo vùng trồng tập trung. Theo đó, mỗi tỉnh, thành phố ưu tiên lựa chọn 1-2 loại cây ăn quả chủ lực, tiến hành lập quy hoạch ngành hàng, gắn với quy hoạch cơ sở hạ tầng, quy hoạch thủy lợi, quy hoạch hệ thống sản xuất giống cây ăn quả.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Cục trưởng Cục Trồng trọt. Ảnh: NTV
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Cục trưởng Cục Trồng trọt. Ảnh: NTV

Việc quy hoạch vùng sản xuất cây ăn quả hàng hóa tập trung cần dựa trên cơ sở lợi thế điều kiện tự nhiên, thị trường, gắn với quản lý và phát triển nguồn giống, cũng như hiệu quả sản xuất, chế biến, tránh phát triển chạy theo phong trào dẫn đến tình trạng “trồng, chặt” gây tốn kém công sức, chi phí.

Liên quan đến việc xác định các cây trồng chủ lực, Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu, nguyên Viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam, cho rằng có 3 loại cây đang “nổi lên” với các con số xuất khẩu ấn tượng, đó là: mít, chanh dây và bơ. Trong đó đáng chú ý là bơ đang tràn về cả đồng bằng sông Cửu Long với chất lượng không thua kém được trồng ở Tây Nguyên; mít thái thì có thể được xem như “đang bùng nổ”…

Trong quy hoạch, ông lưu ý không nên chỉ chú ý năng suất mà phải quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, vì trong bối cảnh nền sản xuất của ta hiện nay thì năng suất thường tỷ lệ nghịch với việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Ông Nguyễn Văn Khang, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang, bằng kinh nghiệm của người nhiều năm gắn bó với đồng bằng lại đề nghị hết sức quan tâm đến việc thích ứng với biến đổi khí hậu, vì những tác động của nó với đồng bằng đang ngày càng gay gắt.

Ông nhận xét về tình hình tái cơ cấu ngành nông nghiệp hiện vẫn chưa triệt để khi vẫn còn quá chú trọng đầu tư cho cây lúa. Theo ông, dứt khoát phải tính đến liên kết vùng, khi đó chắc chắn Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phải giữ vai trò là “nhạc trưởng”.  

Một số ý kiến cho rằng cần đổi mới toàn diện phương thức phát triển sản xuất cây ăn quả theo chuỗi ngành hàng, trong đó các doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo, hình thành và phát triển ổn định các vùng nguyên liệu trọng điểm.

Về liên kết sản xuất, cần có cơ chế tích tụ ruộng đất để khuyến khích doanh nghiệp lớn đầu tư, liên kết với nông dân trong chuỗi giá trị cây ăn quả chủ lực trồng tập trung từ sản xuất đến thu mua, bảo quản, chế biến và xuất khẩu. Thành lập các hợp tác xã sản xuất cây ăn quả đủ lớn để tự tìm kiếm và ký kết các hợp đồng liên kết sản xuất, tiêu thụ hoặc tự xuất khẩu sản phẩm của HTX mình sản xuất được, tránh việc tiêu thụ sản phẩm qua nhiều khâu trung gian.

Đẩy mạnh xuất khẩu nhưng không được lơ là “sân nhà”

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lê Quốc Doanh trong phần kết luận đã khẳng định trong chiến lược phát triển thị trường trái cây, không được phép lơ là thị trường nội địa, bởi hiện nay lượng trái cây nhập khẩu vẫn rất lớn, trong đó có không loại Việt Nam vẫn trồng, sản xuất được. Để tăng lợi thế cạnh tranh, ông yêu cầu tập trung ưu tiên phát triển các chủng loại và giống cây ăn quả đặc sản, chủ lực có lợi thế cạnh tranh và thị trường tiêu thụ ổn định, chú trọng phát triển các chủng loại cây ăn quả có lợi thế phục vụ tiêu thụ nội địa.

Đồng thời phải củng cố, phát triển phát triển hệ thống phân phối trong nước, tiếp cận và sử dụng các chợ đầu mối, các hệ thống siêu thị làm cầu nối để tiêu thụ sản phẩm. Trong vấn đề này, đại diện Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho rằng đã đến lúc người tiêu dùng trong nước cũng cần được sử dụng các sản phẩm Việt theo tiêu chuẩn nhập vào các thị trường khó tính.

Chuối Fohla được trồng tại trang trại Huuy Long An đã được xuất khẩu đến Nhật Bản, Singapore, Trung Đông. Ảnh: NTV
Chuối Fohla được trồng tại trang trại Huuy Long An đã được xuất khẩu đến Nhật Bản, Singapore, Trung Đông. Ảnh: NTV

Để có thể vào được các thị trường khó tính, việc làm thế nào để trái cây Việt có được “visa” là “chuyện không của riêng ai”. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy việc này cần rất nhiều thời gian và sự đồng bộ. Thời gian qua, Cục Bảo vệ thực vật phải vận động một số doanh nghiệp đầu tư kinh phí cho việc xây dựng các cơ sở xử lý, mời chuyên gia sang kiểm tra theo quy định của nước nhập khẩu cũng như chi phí thực hiện các chương trình kiểm tra mà các nước quy định.

Do vậy công tác này chưa thực sự chủ động, chuyên nghiệp, thường xuyên và hiệu quả chưa cao. Cục  đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn bố trí kinh phí, đầu tư nguồn lực tương xứng cho công tác đàm phán thống nhất biện pháp kiểm dịch thực vật để mở cửa thị trường xuất khẩu hoa quả tươi.

Đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật

Tiến sĩ Trần Thị Oanh Yến, Phó Viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam (Sofri), cho biết thành công lớn nhất của việc nghiên cứu cây ăn quả trong những năm gần đây là đã “rải vụ” được hầu hết các loại trái cây. Nhờ vậy mà giá cả trái cây không bị rớt giá thảm hại. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu vẫn rất cần được tập trung hơn nữa. Ông Nguyễn Văn Khang, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang cũng cho rằng công tác nghiên cứu hiện chưa được quan tâm đúng mức.

Theo nhiều chuyên gia, cần quan tâm phát triển các giống cây ăn quả đặc sản có lợi thế tại các địa phương, vùng, ưu tiên công tác bình tuyển, phục tráng các giống bản địa, đặc sản địa phương. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu chọn tạo, phát triển các giống cây ăn quả mới phục vụ nhu cầu đa dạng của thị trường.

Trái cây được dán tem truy xuất nguồn gốc. Ảnh: Thùy Dung
Trái cây được dán tem truy xuất nguồn gốc. Ảnh: Thùy Dung

Một trong những vấn đề nan giải nhất hiện nay ảnh hưởng đến giá trị của trái cây Việt Nam là bảo quản sau thu hoạch cũng được nhiều đại biểu đề cập. Theo đó, cần có chính sách để tăng cường năng lực chế biến, đa dạng hóa sản phẩm, nhất là sản phẩm chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng và góp phần mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường xa, của các doanh nghiệp.

Đồng thời cải tiến mạnh mẽ và triệt để công tác chỉ đạo kỹ thuật trong sản xuất theo hướng tập trung hợp thành các gói công nghệ đồng bộ, có phân cấp độ ứng dụng phù hợp với điều kiện từng vùng và gắn các tổ chức, đơn vị nghiên cứu khoa học vào chuỗi sản xuất.

Trung Tâm Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp Nông thôn miền Nam đề xuất các giải pháp từ quy hoạch vùng nguyên liệu, đầu tư công nghệ, máy móc thiết bị từ khâu thu hái đến khâu bảo quản phải được triển khai đồng bộ. Đồng thời có chương trình đầu tư trang thiết bị phục vụ nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu công nghệ mới, tiên tiến; Hỗ trợ nhập khẩu quy trình, công nghệ tiên tiến, hiện đại có thể ứng dụng phù hợp với điều kiện nước ta; Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao.

Những chính sách để làm bệ phóng

Đại diện các địa phương đề nghị Chính phủ, các Bộ, ngành xem xét sửa đổi Nghị định quản lý đất lúa theo hướng một số cây ăn quả lâu năm có thể linh hoạt sử dụng đất lúa nếu hiệu quả và có thể chuyển về đất lúa khi cần thiết.

Cần có những chính sách khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nhất là nông nghiệp công nghệ cao, bãi bỏ hạn điền và cho phép được tích tụ ruộng đất để mở rộng quy mô sản xuất, góp phần hình thành vùng chuyên canh, vùng sản xuất cây ăn quả an toàn gắn với thương hiệu hàng hóa hoặc nhãn hàng.

Bên cạnh đó là những chính sách tập trung giải quyết các vấn đề theo chuỗi giá trị gia tăng từ sản xuất – thu mua – chế biến, bảo quản – tiêu thụ, phối hợp hình thành các liên kết có trách nhiệm - nghĩa vụ - quyền lợi rõ ràng, hợp lý.

Về chính sách thu hút đầu tư, đề nghị miễn thuế hoặc thống nhất một mức thuế suất đối với thuế sử dụng đất nông nghiệp để khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư, tăng quy mô và hiệu quả sản xuất, đồng thời giảm bớt gánh nặng về thủ tục hành chính; Giảm thuế TNDN xuống còn 10% đối với doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực chế biến, tiêu thụ trái cây.

Xây dụng chính sách tín dụng cho vay theo chuỗi giá trị tính tới quy mô thị trường, chủ thể tham gia chuỗi, nhu cầu sản phẩm tài chính và các dịch vụ đi kèm khác. Đồng thời hoàn thiện các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ trong chọn tạo giống, đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp chọn tạo giống. Nâng cao hiệu quả nghiên cứu KHCN bằng chính sách khuyến khích các đơn vị nghiên cứu công lập sau khi có kết quả nghiên cứu có thể liên kết với các công ty tư nhân để thực hiện quá trình thương mại hóa sản phẩm.

Tiến sĩ Võ Thị Mai, Phó Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, đề nghị xã hội hoá việc huấn luyện VietGAP, chứ như hiện nay thì người nông dân sản xuất nhỏ không thể theo nỗi.

Thùy Dung

;
.
.
.
.