Ngành điều tái cơ cấu: Để có 'tiếng' lẫn 'miếng' - Nông Thôn Việt

Ngành điều tái cơ cấu: Để có 'tiếng' lẫn 'miếng'

Thứ Hai, 11/06/2018, 10:39 [GMT+7]

 

11 năm liên tiếp vừa qua, Việt Nam giữ vị trí là nước chế biến và xuất khẩu nhân điều nhiều nhất thế giới. Cũng chừng ấy năm, việc phải lệ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu luôn khiến các doanh nghiệp phải đau đầu. Chẳng những vậy, thay vì nắm trong tay quyền định giá, ngành điều Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào giá nước ngoài, và chỉ có được một phần nhỏ trong chuỗi giá trị mà loại hạt này mang lại.

Gã khổng lồ ... yếu ớt 

Tại một hội nghị về “phát triển ngành điều” gần đây, tuy đánh giá cao thành quả của ngành điều trong những năm qua, song Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cũng cho rằng, cần phải tái cơ cấu lại ngành này. Theo Bộ trưởng, nếu không như vậy thì sẽ không thể có sự phát triển tiếp theo. “Đó không chỉ là thứ hạng nhất hay nhì, mà liệu rằng ngành hàng này nay mai có còn tồn tại được hay không?”, ông Cường nhấn mạnh.

Việc tái cơ cấu lại ngành điều Việt Nam hứa hẹn sẽ giúp cho nông dân có được thu nhập tốt hơn.  Ảnh: Hiệp hội Điều Việt Nam Vinacas.
Việc tái cơ cấu lại ngành điều Việt Nam hứa hẹn sẽ giúp cho nông dân có được thu nhập tốt hơn. Ảnh: Hiệp hội Điều Việt Nam Vinacas.

Nhìn lại kết quả năm 2017, ngành điều Việt Nam xuất khẩu được đến 362.700 tấn điều nhân, với mức kim ngạch 3,62 tỉ USD. Tuy nhiên, do vụ mùa trong nước thất bát, chỉ đạt 300.000 tấn, tức chỉ đáp ứng 1/5 năng lực của các doanh nghiệp chế biến, nên ngành điều cũng phải chi ra đến 2,5 tỉ USD để nhập khẩu 1,3 triệu tấn nguyên liệu. Những năm trước đó, tình hình cũng gần như tương tự và năm 2018 này có lẽ cũng không ngoại lệ.

Người đứng đầu ngành nông nghiệp của Việt Nam nói rằng, sẽ là quá rủi ro khi ngành điều cứ lệ thuộc vào phần lớn nguyên liệu nhập khẩu. Bởi lẽ những nước khác cũng đang chạy đua phát triển công nghệ chế biến (thứ mà ngành điều Việt Nam đang tự hào). “Chúng ta làm được thì người khác cũng sẽ làm được”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường lưu ý. Không chỉ là những quốc gia có năng lực chế biến điều như Trung Quốc hay Ấn Độ, mà còn cần phải dè chừng cả sự vươn lên của những nước vốn chỉ đang xuất điều thô. Ông Cường cảnh báo rằng chuyện phải cạnh tranh để mua nguyên liệu là điều khó tránh khỏi.

Ở phía đầu ra, theo ông Cường cũng là một điểm yếu lớn. Thông tin từ Cục Trồng trọt cho thấy, tuy là nước xuất khẩu điều lớn nhất thế giới, song Việt Nam mới chỉ tham gia vào khâu chế biến sơ, tương đương chỉ 18% trong chuỗi giá trị điều. Trong khi đó, phần lợi nhuận lớn nhất vẫn nằm ở khâu chế biến sâu và phân phối với tổng giá trị gần 60%. Ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) cho biết, “nếu các sản phẩm chế biến sâu, đóng lon bày bán trong siêu thị của các nước ở châu Âu hay châu Mỹ có giá tới 25-30USD/kg thì sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam chỉ được 10-11USD/kg”.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nói rằng đó cũng chính là nguy cơ, bởi khi ngành điều Việt Nam không làm ra được sản phẩm cuối cùng trong chuỗi giá trị gia tăng, thì phải lệ thuộc vào các nhà chiên chao và phân phối nước ngoài, “để rồi cứ có bất kì sự thay đổi gì cũng đều dễ bị thương tổn”.

Hướng đến kim ngạch 10 tỷ USD 

Theo bản dự thảo của Đề án tái cơ cấu ngành điều Việt Nam theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2025, tầm nhìn 2030 của Vinacas, ngành điều Việt Nam đặt mục tiêu sẽ đạt doanh thu 5 tỉ USD vào năm 2025 và 10,5 tỉ USD vào năm 2030. Với những “tử huyệt” quá rõ của mình, liệu những con số vừa nêu có thành hiện thực?

Vinacas cho biết trước kia, nhằm định hướng cho ngành công nghiệp non trẻ đang phát triển với tốc độ cao, phía Hiệp hội cùng Bộ NN&PTNT đã trình Thủ tướng Chính phủ Đề án Chiến lược phát triển ngành điều giai đoạn 10 năm từ 2000-2010. Sau đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 120/1999/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án phát triển ngành điều đến năm 2010. Thời gian sau, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ban hành Quyết định số 39/2007/QĐ-BNN về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành điều đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

Điều đáng chú ý là đến năm 2005, hầu hết các chỉ tiêu phát triển của Quyết định 120/1999/QĐ-TTg đã được ngành điều hoàn thành xuất sắc. Đến năm 2010, phần lớn các mục tiêu phát triển của Quyết định 39/2007/QĐ-BNN lại cũng được ngành điều tiếp tục hoàn thành vượt mức kế hoạch. Cụ thể từ năm 2006, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia xuất khẩu hạt điều lớn nhất thế giới. Từ năm 2010, hạt điều đã vào nhóm ngành hàng nông sản chủ lực có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Giai đoạn 2015-2016, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2 tỷ USD.

Ngày 18/09/2014, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định số 3993/QĐ-BNN-TT về việc phê duyệt Đề án phát triển bền vững ngành điều Việt Nam đến năm 2020. Tuy nhiên, đến hết 2017, một lần nữa, hầu hết chỉ tiêu phát triển của quyết định nói trên đã được ngành điều hoàn thành vượt mức kế hoạch. Vì lý do này, Bộ NN&PTNT ban hành đề án tiếp theo về tái cơ cấu ngành điều Việt Nam theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2025, tầm nhìn 2030.

Điểm đáng chú ý trong bản dự thảo Vinacas trình Bộ NN&PTNT là ngành điều sẽ có sự chuyển dịch, nâng dần doanh thu từ việc chế biến sâu, chứ không quá chú trọng xuất khẩu nhân điều sơ chế như hiện nay. Cụ thể đến năm 2025, dù hướng đến tổng kim ngạch xuất khẩu nhân điều sơ chế đạt 4 tỉ USD nhưng giá trị xuất khẩu sản phẩm nhân điều chế biến sâu và sản phẩm phụ (dầu vỏ hạt điều,…) cũng sẽ đạt đến 1 tỉ USD (hiện tại có đến 95% sản phẩm xuất khẩu là nhân điều sơ chế, chỉ 5% được chế biến sâu). Đặc biệt đến năm 2030, giá trị xuất khẩu sản phẩm nhân điều chế biến sâu và sản phẩm phụ được kì vọng đạt đến 7 tỷ USD, vượt xa doanh thu từ nhân điều sơ chế, lúc này được hạ xuống, chỉ còn 3,5 tỉ USD.

Thách thức

Việc thiếu hụt nguồn nguyên liệu nội địa buộc doanh nghiệp chế biến điều Việt Nam sẽ phải tiếp tục lệ thuộc vào nhập khẩu. Tuy nhiên, nếu ngành điều vẫn ổn định được diện tích như hiện nay (trên 300.000 ha) và quyết liệt hơn trong công cuộc trẻ hóa những vườn cây già cỗi (hiện chiếm 70%) bằng giống mới phù hợp biến đổi khí hậu, thì sản lượng điều trong nước sẽ khả quan hơn rất nhiều.

Bởi lẽ với năng suất bình quân chỉ 1,1 tấn/ha hiện nay, hoàn toàn có thể nâng lên gấp đôi mà không lo ảnh hưởng chất lượng. Bên cạnh đó, một khi công tác xây dựng vùng nguyên liệu tại các nước láng giềng như Campuchia (đang triển khai), Lào hay Myanmar thành công, ngành điều sẽ dễ thở hơn rất nhiều khi không còn lệ thuộc gay gắt vào các nước châu Phi xa xôi.

Nhưng việc nâng doanh thu từ chế biến sâu lên 7 tỉ USD, gấp đôi so với nhân điều sơ chế như tầm nhìn 2030 lại là một chuyện khác, “gay góc” hơn nhiều!

Cục Trồng trọt cho biết, mặc dù được đánh giá là ngành hàng có công nghệ chế biến tương đối tốt nhưng hiện nay mới chỉ có khoảng 20 doanh nghiệp lớn đầu tư cho chế biến sâu (điều rang muối, điều chiên bơ, điều có gia vị, điều hỗn hợp, bánh kẹo điều…) với công suất 15,4 nghìn tấn sản phẩm/năm, còn lại là các cơ sở nhỏ lẻ, cung ứng cho thị trường nội địa khoảng 20.000 tấn sản phẩm/năm. Chế biến dầu vỏ hạt có 26 cơ sở, công suất 80.000 tấn sản phẩm/năm và 5 cơ sở tinh luyện dầu vỏ hạt, công suất 6.000 tấn sản phẩm/năm.

Việt Nam hiện có khoảng 465 doanh nghiệp thuộc ngành điều. Tuy nhiên, đến 90% trong số này có quy mô nhỏ hoặc siêu nhỏ, lợi nhuận không nhiều. Điều này lý giải vì sao có quá ít doanh nghiệp tham gia chế biến sâu, bởi dù đó là miếng bánh ngon, nhưng không phải ai cũng có đủ khả năng.

Từ đó, doanh nghiệp nhỏ cứ hoạt động manh mún, tranh mua lẫn bán nguyên liệu với nhau, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nước ngoài “nhận giá” sản phẩm điều Việt Nam xuống thấp. Không chỉ vậy, nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm cũng khá cao, ảnh hưởng uy tín ngành điều Việt Nam.

Liên kết để tăng tiềm lực nhằm sản xuất hàng hóa đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới là điều cần làm. Song, như một doanh nghiệp thừa nhận, điều này rất khó ở Việt Nam bởi tâm lý “ai cũng muốn mình được làm chủ”.

Bên cạnh đó, khi các doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu và thâm nhập thị trường bán lẻ toàn cầu, việc phân chia lợi nhuận trong chuỗi giá trị giữa các nhà sản xuất, chế biến, xuất khẩu nhân điều của Việt Nam so với các tập đoàn chiên chao, bán buôn, bán lẻ của thế giới dự báo sẽ được thu hẹp. Tuy nhiên, Vinacas cũng nhận định đây sẽ là cuộc cạnh tranh rất khốc liệt n

Phú Li

;
.
.
.