Niềm tin của người nông dân - Nông Thôn Việt

Niềm tin của người nông dân

Thứ Hai, 11/02/2019, 12:59 [GMT+7]

Xưa và nay, niềm tin là nền tảng của giá trị, là chuẩn mực của xã hội. Niềm tin là nguồn gốc của quyền lực. Trong quan hệ giữa nhân dân và người cầm quyền, nếu mất niềm tin thì sự cầm quyền sẽ không còn tác dụng. Mất niềm tin là mất tất cả.

Niềm tin của người nông dân được củng cố, tăng cường cùng với những thành tựu to lớn của đất nước sau hơn 30 năm đổi mới, nhất là những chuyển biến về kinh tế - xã hội, trong đó có sự tiến bộ, bứt phá trong nông nghiệp, nông thôn từ sau Đại hội XII của Đảng.

Năm 2018, ngành nông nghiệp đạt được thắng lợi toàn diện. Tốc độ tăng trưởng toàn ngành 3,76%, cao nhất trong 7 năm trở lại đây. Doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào nông nghiệp nhiều hơn. Một số nhà máy chế biến nông sản có công nghệ hiện đại đã đi vào hoạt động.

Công tác xúc tiến thương mại, tìm đầu ra cho các sản phẩm nông sản được thực hiện tốt. Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới chuyển biến rõ. Có 43% số xã và 61 đơn vị cấp huyện đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Đời sống vật chất và tinh thần của đông đảo nông dân bước đầu được cải thiện.

Tuy nhiên, niềm tin của người nông dân vẫn chưa trọn vẹn. Trước hết, thu nhập của nông dân làm nông nghiệp còn rất thấp so với các ngành nghề khác (30,2 triệu đồng/năm), tỷ lệ hộ nghèo còn cao (6,72%). Mức hưởng thụ đời sống văn hóa, dịch vụ giáo dục, y tế, thông tin vv… còn thấp thua xa so với khu vực đô thị. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn còn bất cập, ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp còn nặng.

Chất lượng vật tư đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu chưa được chính quyền các cấp kiểm soát tốt. Một số loại nông sản tiêu thụ bị động, khó khăn. Tình trạng vi phạm quy chế dân chủ trong đền bù giải phóng mặt bằng, tổ chức tái định cư ở một số địa phương vẫn còn diễn ra.

Nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực trong quản lý đất đai, các dự án bất động sản, đô thị chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Việc phá rừng, săn bắt, buôn bán động vật quý hiếm có nơi còn diễn biến phức tạp.

Băn khoăn lớn nhất là chậm đưa ngành nông nghiệp phát triển tương xứng với tiềm năng của đất nước như Hàn Quốc, Israel, Hà Lan, Thái Lan… đã làm. Chậm xây dựng thương hiệu sản phẩm, xây dựng các sản phẩm chủ lực quốc gia, chậm giảm mạnh diện tích trồng lúa sang trồng rau quả và nuôi trồng thủy sản… có hiệu quả cao hơn mà vẫn đảm bảo an ninh lương thực.

Chậm có cơ chế khuyến khích phát triển mạnh mẽ cây dược liệu trên diện tích miền núi rộng lớn và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nhất là đầu tư công nghiệp chế biến. Xuất khẩu nông sản Việt Nam, chủ yếu vẫn là xuất thô như cao su, cà phê, chè…, chế biến sâu chưa được quan tâm đúng mức nên giá trị gia tăng thấp.

Tổ chức sản xuất liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp và nông dân chưa trở thành phổ biến. Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nhất là giống mới, giống cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu còn hạn chế. Năng suất lao động nông nghiệp và thu nhập của người nông dân còn nằm ở nhóm nước thấp của thế giới. Công tác dự báo thị trường, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều yếu kém...

Những hạn chế, tồn tại nêu trên đặt ra cho công tác quản lý nhà nước của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn rất nhiều việc phải làm trong thời gian tới. Đảng đã ban hành Nghị quyết “Tam nông”, Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo, lại được đông đảo nông dân hưởng ứng, nhất định năm 2019 nông nghiệp Việt Nam sẽ gặt hái nhiều kết quả tốt.

Nguyễn Thế Trung

;
.
.
.
.