Chuyện nhà nông 'nóng' diễn đàn Quốc hội - Nông Thôn Việt

Chuyện nhà nông 'nóng' diễn đàn Quốc hội

Thứ Ba, 11/06/2019, 08:51 [GMT+7]

Trong báo cáo gửi tới quốc hội tại kỳ họp thứ 7 vào cuối tháng 5 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Nguyễn Xuân Cường cho biết, năng lực sản xuất kinh doanh, phòng chống thiên tai, hội nhập quốc tế… của ngành tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn đang đối diện với rất nhiều khó khăn và đang phải đề nghị giảm chỉ tiêu tăng trưởng.

Tháo gỡ vướng mắc trong chính sách đất đai là nhiệm vụ cần được ưu tiên đặc biệt để phát triển nông nghiệp Ảnh Đ.T.
Tháo gỡ vướng mắc trong chính sách đất đai là nhiệm vụ cần được ưu tiên đặc biệt để phát triển nông nghiệp. Ảnh Đ.T.

Khó đạt mục tiêu

Người đứng đầu ngành NN&PTNT nêu rõ, thực tế, trong 3 năm 2016 - 2018, tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành nông nghiệp đạt bình quân 2,65%/năm; dự kiến năm 2019 phấn đấu đạt trên 3% và nếu đạt thì trong 2 năm 2019 - 2020, tốc độ tăng trưởng toàn ngành đạt khoảng 2,9 - 3,1%/năm. “Như vậy, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân toàn ngành 5 năm 2016 - 2020 ước đạt khoảng 2,8 - 3,1%/năm, cao hơn mức 2,41% của năm 2015, nhưng thấp hơn bình quân của 5 năm trước (2011 - 2015) và thấp hơn mục tiêu tại Nghị quyết số 113/2015/QH13 của Quốc hội”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường trăn trở.

Trước tình hình này, Bộ NN&PTNT đã kiến nghị Tổ biên tập Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 - 2020 trình Đại hội Đảng lần thứ XII điều chỉnh số liệu tốc độ tăng trưởng khu vực nông nghiệp giai đoạn 2016 - 2020 từ mức 3,5 - 4%/năm xuống còn khoảng 2,6 - 3%/năm.

Nguyên nhân khách quan được vị Bộ trưởng lý giải là do những khó khăn về kinh tế trong nước cũng như quốc tế và do biến đổi khí hậu gây ra có nhiều tác động bất lợi đến sản xuất nông nghiệp và tăng trưởng ngành.

Để khắc phục, Đảng, Nhà nước đã dành nhiều chính sách ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp từ ngân sách nhà nước và thu hút các nguồn lực xã hội đầu tư cho ngành. Trong nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã tổ chức rà soát, cắt giảm 276/326 điều kiện đầu tư kinh doanh (bãi bỏ 139, sửa đổi 137 điều kiện ĐTKD), đạt tỷ lệ 84,6%.

Bên cạnh đó, Bộ cũng đã trình các cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và phê duyệt các chiến lược, chương trình nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ nhằm khuyến khích, thu hút doanh nghiệp đầu tư trong việc cung cấp cây giống, vật nuôi, chế biến, ứng dụng khoa học công nghệ, tập trung vào các sản phẩm chủ lực của ngành, giải quyết các vấn đề bức xúc thực tiễn, phục vụ cho việc cơ cấu lại ngành.

Tuy nhiên, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập, trong đó có một trở ngại lớn đã được đề cập từ rất nhiều năm nay, đó là khả năng tiếp cận đất đai còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là cơ chế tập trung đất đai để có thể sản xuất lớn trong nông nghiệp do Luật Đất đai chưa được sửa đổi cho phù hợp.

Không có quỹ đất đủ lớn cũng chính là lực cản cho quá trình đầu tư ứng dụng khoa học và công nghệ trong phát triển nông nghiệp. Ruộng đất để canh tác nông nghiệp bị chia nhỏ, lượng sản phẩm ít nên nông dân không quan tâm nhiều đến đầu tư áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; đầu tư cơ giới hóa, sản xuất manh mún nên hiệu quả thấp, nhất là trong lĩnh vực trồng trọt. Trong khi đó, về tổ chức sản xuất, chưa hình thành được các vùng sản xuất lớn có quản trị hiện đại, gắn bó hữu cơ giữa quy hoạch nông nghiệp với quy hoạch công nghiệp chế biến, quy hoạch dịch vụ và chính sách hỗ trợ.

Sửa luật đất đai mới chỉ là điều kiện cần

Mô hình trồng cam của trang trại Chiến Thắng (Bình Dương). Ảnh: Đ.T
Mô hình trồng cam của trang trại Chiến Thắng (Bình Dương). Ảnh: Đ.T

Chính sách tạo thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai để sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn chưa đủ mạnh. Quy định chỉ cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được nhận chuyển nhượng đất trồng lúa đã ảnh hưởng đến quá trình tích tụ đất đai. Mức thuế và phí liên quan đến chuyển nhượng đất nông nghiệp áp chung như các bất động sản khác, còn cao so với lợi nhuận có thể tạo ra từ sản xuất nông nghiệp – đó là những nhận xét khái quát của Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường.

Trong bối cảnh đó, chính sách hỗ trợ (như hướng nghiệp, hỗ trợ tiền chuyển đổi nghề…) đối với các hộ không còn nhu cầu sản xuất nông nghiệp chuyển đổi sang phi nông nghiệp lại chưa đủ mạnh, nên để chắc ăn, họ vẫn có xu hướng giữ ruộng làm “của tin”, mặc dù đã ngừng canh tác hoặc cho thuê ruộng ngắn hạn phi chính thức. Việc thu hồi đất đối với trường hợp không đưa đất nông nghiệp vào sử dụng, chậm đưa đất nông nghiệp vào sử dụng... chưa được thực hiện nghiêm, đã làm hạn chế khả năng sử dụng quỹ đất nông nghiệp một cách hiệu quả.

Rõ ràng tháo gỡ vướng mắc trong chính sách đất đai (hiện Bộ NN&PTNT đang phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường để trong năm 2019 xây dựng, trình Chính phủ Đề án “Cơ chế, chính sách khuyến khích tích tụ, tập trung đất đai gắn với cơ cấu lại nông nghiệp và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp”) là nhiệm vụ cần được ưu tiên đặc biệt trong thời gian tới.

Trên cơ sở đó và căn cứ Kết luận số 36-KL/TW ngày 06.09.2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật đất đai, Chính phủ sẽ trình Quốc hội sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật về đất đai và trực tiếp sửa đổi, bổ sung văn bản dưới luật; tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; chỉ đạo các địa phương thực hiện tích tụ, tập trung đất đai để phục vụ sản xuất nông nghiệp quy mô lớn.

Thế nhưng gỡ vướng đất đai cũng chỉ mới là điều kiện cần và khu vực nông nghiệp vẫn chưa thể vận hành hiệu quả khi có sự thay đổi nhịp nhàng từ nhiều lĩnh vực khác. Vẫn còn đó khó khăn trong tiếp cận tín dụng, mặc dù nhiều chính sách đã được sửa đổi thông thoáng hơn (như cho vay thế chấp bằng tài sản hình thành trong trong quá trình đầu tư dự án…), bởi trên thực tế các ngân hàng vẫn nặng về cho vay có tài sản đảm bảo, do sợ rủi ro cũng như trách nhiệm khi cho vay đầu tư bằng hình thức này.

Về cơ chế tài chính, vẫn còn thiếu một chính sách thuế phù hợp để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, trong đó phải kể tới cơ chế cho phép giảm trừ khoản thuế phải nộp vào khoản hỗ trợ đầu tư của nhà nước (khi ngân sách không đủ hoặc không đáp ứng kịp thời).

Cũng không thể không kể tới gánh nặng về thủ tục hành chính, thủ tục hỗ trợ đầu tư, nhất là hỗ trợ từ nguồn vốn trung ương do không phù hợp với Luật Đầu tư công và Luật Ngân sách…

Tất nhiên, phải nói thêm rằng ngay cả khi cơ quan lập pháp đã lắng nghe và có sự điều chỉnh, hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật, thì khâu triển khai thực hiện trên thực tế; việc nâng cao năng lực tự thân của các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp là một câu chuyện dài khác.

CẨM HÀ

 

;
.
.
.
.