Thời của nông nghiệp hữu cơ - Nông Thôn Việt

Thời của nông nghiệp hữu cơ

Thứ Ba, 17/12/2019, 15:01 [GMT+7]

So với vài năm trước đây, cụm từ sản phẩm “nông nghiệp hữu cơ” đã không còn quá xa lạ, người tiêu dùng hầu như không còn lầm tưởng giữa các loại nông sản sạch, an toàn, hữu cơ (organic) và đang ngày càng có nhu cầu lớn về thực phẩm hữu cơ. Do vậy mà dù quy trình sản xuất thực phẩm hữu cơ yêu cầu rất nhiều tiêu chuẩn nghiêm ngặt và được kiểm duyệt chặt chẽ trong mọi khâu sản xuất, rất khó để tuân thủ, nhưng rất nhiều người sản xuất nông nghiệp vẫn mạnh dạn chuyển từ canh tác truyền thống sang sản xuất thực phẩm hữu cơ.

 

Sản xuất NNHC - xu thế tất yếu

Trong bối cảnh áp lực về lương thực giảm đi và áp lực về an toàn thực phẩm, chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường… tăng lên, thì hệ thống canh tác NNHC trở thành xu hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Theo công bố năm 2018 của Liên đoàn các phong trào NNHC Quốc tế - IFOAM, tính đến năm 2016 đã có 178 nước/vùng lãnh thổ thực hiện NNHC.

Toàn thế giới có 57,8 triệu ha đất NNHC, trong đó châu Đại Dương, châu Âu và Mỹ chiếm hơn 80%. Tỷ trọng diện tích đất NNHC trên tổng diện tích đất nông nghiệp bình quân toàn thế giới là 1,2%. Tỷ trọng đất sản xuất hữu cơ trên đất trồng trọt toàn thế giới là 4,1%, trong đó Urugoay đạt tỷ trọng cao nhất 68,7%, tiếp đến là Australia 58,9%, Đức 10,6%. So với 17 năm trước, diện tích đất hữu cơ năm 2016 tăng gấp 5 lần (từ 11 triệu ha lên 57,8 triệu ha). Riêng năm 2016, con số này tăng 7,5 triệu ha (gần 15%) so với năm 2015, trong đó riêng Australia tăng hơn 5 triệu ha.

Nông nghiệp Việt Nam, dĩ nhiên, không thể đứng ngoài thời cuộc này. Các văn kiện Hội nghị TW, kết luận của Ban Bí thư, nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, chỉ thị của Thủ tướng, cam kết của Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc về chống Biến đổi khí hậu (COP21) tại Paris năm 2016… đều nhấn mạnh sự cần thiết và chủ trương phát triển NNHC. Chính phủ và Bộ NN&PTNT đã xác định NNHC đang là xu thế phát triển và sẽ phát triển nhanh trong thời gian tới do đảm bảo cung cấp được các sản phẩm tốt hơn cho sức khỏe con người và cho xã hội. Ngoài ra, sản xuất NNHC còn bảo vệ sự phát triển bền vững của môi trường, là một trong những giải pháp khả thi nhất trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu hiện nay tại nước ta.

Trong năm 2017, thị trường thực phẩm hữu cơ tăng trưởng đáng kể với giá trị bán lẻ đạt con số 97 triệu USD. Hai khu vực có mức tăng trưởng đáng kể và chiếm đến 90% thị phần là phía Bắc Hoa Kỳ với 48,7 tỷ USD và châu Âu với 39,6 tỷ USD.

 

Sản phẩm hữu cơ ngày càng quen thuộc với người tiêu dùng.
Sản phẩm hữu cơ ngày càng quen thuộc với người tiêu dùng.

NNHC Việt Nam - cửa đã mở…

Tính đến nay, Việt Nam có khoảng 40 tỉnh thành có sản xuất NNHC. Mặc dù đi sau so với nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng sự nỗ lực của nhiều doanh nghiệp cùng các nhà nông đã đưa Việt Nam vào danh sách 170 quốc gia tham gia sản xuất NNHC, đẩy nhanh tốc độ phát triển sản xuất NNHC. Việt Nam đã kết nối với các tổ chức quốc tế quan trọng như IFOAM, Liên đoàn các phong trào NNHC châu Á - IFOAM Asia, Tổ chức chính quyền địa phương với nông nghiệp hữu cơ - ALGOA…

Trong hai năm 2017 - 2018, Bộ KH&CN đã ban hành các tiêu chuẩn về NNHC. Trong đó bao gồm các tiêu chuẩn về trồng trọt - chăn nuôi hữu cơ (gạo, chè, sữa, tôm); yêu cầu chung đối với sản xuất, chế biến, ghi nhãn sản phẩm NNHC và yêu cầu đối với tổ chức đánh giá và chứng nhận hệ thống sản xuất và chế biến sản phẩm hữu cơ. Không ít doanh nghiệp đã đón đầu và đi tiên phong trong việc áp dụng công nghệ sản xuất mới, vận động nông dân tham gia sản xuất sản phẩm hữu cơ để nâng cao chất lượng cũng như giá trị thương hiệu, giúp sản phẩm hữu cơ tạo được lòng tin đối với người tiêu dùng.

Tỷ lệ thuận với số tỉnh thành tham gia sản xuất hữu cơ, số lượng mô hình sản xuất NNHC cũng tăng khá nhanh. Ngoài cây trồng, sản phẩm hữu cơ còn phát triển mạnh về chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản… Các sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng, chất lượng và có giá trị cao, đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Một số sản phẩm hữu cơ Việt Nam đã có thương hiệu và đã có mặt ở nhiều thị trường cao cấp như Mỹ, Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc…

Theo thống kê, diện tích sản xuất hữu cơ đối với các cây trồng chính tại Việt Nam hiện đạt gần 23,4 ngàn ha. Trong đó, cây lương thực (lúa và ngô) có 9 tỉnh có mô hình với diện tích 11,5 ngàn ha; 14 tỉnh có mô hình rau hữu cơ với diện tích hơn 2 ngàn ha; 8 tỉnh có mô hình chè hữu cơ với diện tích 2,8 ngàn ha; 10 tỉnh có mô hình cây ăn quả hữu cơ với diện tích 4,7 ngàn ha; 2 tỉnh (Đăk Nông, Bình Phước) có mô hình điều hữu cơ với diện tích 2.155ha; 2 tỉnh (Đăk Nông, Gia Lai) có mô hình hồ tiêu hữu cơ với diện tích 59,5ha; cà phê hữu cơ có tỉnh Gia Lai có mô hình 35ha; dược liệu hữu cơ có 2 tỉnh (An Giang, Phú Yên) có mô hình với diện tích 13,8ha.

Một số vùng đã nhận được chứng nhận của các tổ chức nước ngoài đối với sản phẩm trồng trọt hữu cơ tại địa phương. Tổ chức chứng nhận ATC (Thái Lan) đã cấp chứng nhận cho 383,9ha chè sản xuất tại Lào Cai và 150ha chè sản xuất tại Hà Giang. Tổ chức chứng nhận Control Union (Hà Lan) cấp chứng nhận HOASUA FOODS cho 317ha lúa tại tỉnh Cà Mau và 3,69ha rau tại tỉnh Lâm Đồng. PGS (Hệ thống Đảm bảo có sự tham gia - Participatory Guarantee System) đã cấp chứng nhận cho 54,85ha rau tại một số tỉnh.

Về chăn nuôi, hiện có 12 tỉnh thành có mô hình nuôi lợn hữu cơ với tổng số đầu con khoảng 64,2 ngàn con, sản lượng thịt hơi 5,92 ngàn tấn. Gà hữu cơ có 6 tỉnh là Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Cao Bằng, Hòa Bình, Đồng Nai với 273 ngàn con, sản lượng thịt hơi 922 tấn. Hiện có 2 tỉnh là Nghệ An và Lâm Đồng có chăn nuôi bò sữa hữu cơ được các tổ chức quốc tế công nhận với tổng số 3.500 con. Cả nước có 4 tỉnh có mô hình nuôi trồng thủy sản hữu cơ với tổng diện tích 134,8 ngàn ha, trong đó lớn nhất là Bạc Liêu 113,4 ngàn ha (tôm hữu cơ và tôm sinh thái), Cà Mau 19 ngàn ha (tôm hữu cơ và tôm sinh thái), Thừa Thiên Huế 2.396,6ha (tôm và các thủy sản khác), Hải Phòng 20ha (tôm, rươi và các thủy sản khác).

Bức tranh cần thêm nhiều nét sáng

Nhìn chung, bức tranh NNHC Việt Nam có nhiều nét khả quan, nhưng theo các chuyên gia trong ngành, vẫn có không ít “ngổn ngang” cần thu xếp. Trong thực tế, kể cả trồng trọt và chăn nuôi, các mô hình hữu cơ hầu như chỉ ở dạng nhỏ lẻ, quy mô diện tích nhỏ, chưa có vùng tập trung, sản phẩm ở dạng đơn lẻ, tập trung chủ yếu ở các sản phẩm tươi sống và một vài vật nuôi chính. Có rất ít địa phương triển khai nuôi trồng thủy sản hữu cơ, chủ yếu theo hướng hữu cơ và sinh thái, đối với khai thác và đánh bắt chủ yếu dựa vào tiềm năng mặt nước ao hồ tự nhiên, phân tán.

Để tiếp tục vẽ nên bức tranh tươi sáng về phát triển NNHC tại Việt Nam, chúng ta cần có các cơ chế, chính sách đặc thù đủ mạnh để khuyến khích phát triển, đồng thời phải hoàn chỉnh hệ thống cấp chứng nhận, tiêu chuẩn, quy chuẩn, giám sát. Hiện nay, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về NNHC còn chậm.

Năm 2018 mới ban hành Nghị định 109/2018/NĐ-CP và đến nay chưa có thông tư hướng dẫn thực hiện. Năm 2017, Bộ KH&CN đã công bố bộ TCVN mới về NNHC, tuy nhiên chưa có TCVN về thủy sản hữu cơ, dược liệu, mỹ phẩm hữu cơ cũng như các tiêu chuẩn hữu cơ đối với các sản phẩm khác: rau hữu cơ, quả hữu cơ, cà phê hữu cơ, điều hữu cơ, hồ tiêu hữu cơ… chưa có bộ tiêu chí đánh giá cơ sở đủ điều kiện sản xuất hữu cơ.

Trong khi đó, hoạt động thanh kiểm tra sản phẩm NNHC tại các cơ sở sản xuất, tiêu thụ chưa được thường xuyên. Ngay cả vật tư đầu vào (phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ sinh học, thuốc thú y hữu cơ sinh học…) cũng chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu của sản xuất hữu cơ.

Quỹ đất để sản xuất hữu cơ hiện nay cũng không nhiều, tỷ lệ diện tích đất sản xuất hữu cơ trong tổng diện tích đất canh tác còn thấp (chỉ 0,7%, trong khi bình quân thế giới 4,1%, Trung Quốc 1,9%). Diện tích sản xuất hữu cơ còn manh mún, sản phẩm chưa đa dạng và chất lượng chưa đồng đều, chưa có chế biến sâu, việc kiểm soát về chất lượng còn gặp nhiều khó khăn. Quy mô và hiệu quả sản xuất NNHC còn nhỏ lẻ, các doanh nghiệp và hộ sản xuất NNHC chủ yếu dựa vào các dự án hỗ trợ. Về tổng thể, chưa có định hướng chiến lược về sản xuất và tiêu thụ. Ngay cả việc xác định vùng sản xuất NNHC tại các địa phương cũng chưa đồng bộ, một số tỉnh đã có chính sách hỗ trợ NNHC nhưng lại vấp phải khó khăn về nguồn kinh phí hỗ trợ.

Do vốn đầu tư ban đầu để xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho sản xuất hữu cơ khá lớn, dẫn đến việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hữu cơ, đặc biệt là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa. Các doanh nghiệp đầu tư vào liên kết sản xuất hữu cơ còn ít, đặc biệt là các mô hình sản xuất theo chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hữu cơ.

Năm 2018 có 93 quốc gia quy định về sản xuất hữu cơ, 16 quốc gia đang xây dựng dự thảo, ít nhất 29 quốc gia ở châu Phi, châu Á và châu Úc phê chuẩn luật hoặc quy định về NNHC - các văn bản này sẽ có hiệu lực vào năm 2021.

 

NHẬT THẢO

;
.
.
.
.