Heo hơi ứ hàng: Hậu quả của nền chăn nuôi tự phát - Nông Thôn Việt

Heo hơi ứ hàng: Hậu quả của nền chăn nuôi tự phát

Thứ Sáu, 09/06/2017, 15:11 [GMT+7]

Heo hơi ứ hàng: Hậu quả của nền chăn nuôi tự phát

Sau chuối, mới đây, đến lượt heo được kêu gọi “giải cứu”. Lần này, có vẻ do tính chất nghiêm trọng của vấn đề, nên chính Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phát đi lời kêu gọi. Thực tế này một lần nữa gióng lên hồi chuông báo động về một nền nông nghiệp sản xuất còn đầy tính tự phát, nhiều khuyết tật. NTV đã gặp và trao đổi vấn đề này với ông Văn Đức Mười, nguyên Tổng Giám đốc Công ty CP Việt Nam Kỹ nghệ Súc sản (VISSAN), người có nhiều năm kinh nghiệm với thị trường thịt heo sống.

ông Văn Đức Mười

ông Văn Đức Mười

Nguyên nhân: quá lệ thuộc vào thị trường trung quốc?

Thưa ông, là người có nhiều năm quản lý một doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm tươi sống hàng đầu cả nước, theo ông, tình trạng heo hơi ứ hàng, người chăn nuôi heo cả nước đồng loạt kêu cứu như hiện nay xuất phát từ đâu?

Cách đây khoảng hai năm, trên các phương tiện thông tin đại chúng, không chỉ chúng tôi mà nhiều chuyên gia, nhiều nhà kinh tế nông nghiệp đã lên tiếng về tình trạng mất cân đối cung cầu trong chăn nuôi. Nhưng rất tiếc là đã không có những điều chỉnh kịp thời. Về nguyên nhân, dễ thấy nhất là do chúng ta quá lệ thuộc vào một thị trường độc nhất.

Đó là thị trường heo hơi xuất khẩu tiểu ngạch qua Trung Quốc (hiện chúng ta có thêm một phần nhỏ xuất sang Campuchia). Con số khoảng 15.000 con heo sống được đưa qua cửa khẩu Trung Quốc và 1.000 con heo sống sang Campuchia mỗi ngày, đã thúc đẩy và kích thích ngành chăn nuôi của ta phát triển quá “nóng”. Và tất nhiên, khi thị trường chính này bị ngừng lại thì tình trạng mất cân đối sẽ vô cùng trầm trọng.

Thưa ông, ông nhận xét gì về các phong trào “giải cứu” nông sản đã diễn ra. Nhiều ý kiến cho rằng đó là việc làm không phù hợp quy luật kinh tế thị trường?

Theo tôi, đó là việc cần làm trong ngắn hạn. Nhưng cần tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của nó thì mới giải quyết được căn cơ vấn đề. Bởi chúng ta biết rằng, lượng thịt heo mà một người sử dụng hàng ngày không thể tăng lên theo lời kêu gọi.

Số lượng thịt cấp đông dự trữ cũng thế, không thể được nhiều, bởi tất cả đều có giới hạn. Đó là chưa kể, heo nuôi cho thị trường Trung Quốc có yêu cầu khác với thị trường nội địa (nhiều mỡ hơn), nên người tiêu dùng có muốn sử dụng nhiều hơn cũng khó.

Tôi nghĩ rằng việc kêu gọi người tiêu dùng “giải cứu” bằng cách dùng nhiều thịt heo hơn chỉ giải quyết vấn đề niềm tin cho người chăn nuôi là được sự sẻ chia của cộng đồng, chứ không giải quyết được bản chất vấn đề.

Vậy nguyên nhân căn bản mà ông muốn nói đến là gì, thưa ông?

Do chiến lược phát triển nền nông nghiệp toàn diện không được thực thi dù đã được xây dựng trên lý thuyết nên thực trạng chăn nuôi hiện nay vẫn là tự phát. Trách nhiệm này chắc chắn thuộc về Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Cơ quan này chưa tham mưu tốt cho Chính phủ về phân tích và dự báo thị trường, đầu tư công nghệ, nhất là định hướng phát triển chăn nuôi theo sản lượng và chất lượng được kiểm soát. Dĩ nhiên, cũng có sự liên đới trách nhiệm của các bộ, ngành khác.

Tôi cho rằng thị trường sẽ lập tức được cân đối nếu chất lượng và sản lượng heo được kiểm soát tốt, truy xuất được nguồn gốc, bởi khi đó chúng ta sẽ vượt qua được rào cản kỹ thuật của các nước và xuất khẩu được thịt heo sau giết mổ. Làm được như vậy, không chỉ cuộc sống người chăn nuôi ổn định mà còn góp phần phát triển kinh tế đất nước.

Thịt heo của Vissan trong sieu thị
Thịt heo của Vissan trong sieu thị

Tôi cũng rất lo ngại về việc Nhà nước đang tạo điều kiện để phân vùng kinh tế cho các địa phương, để rồi mỗi tỉnh tự quyết vấn đề sản lượng chăn nuôi. Hậu quả là nhiều địa phương đã không tận dụng được lợi thế, thậm chí bỏ đi lợi thế của mình trong phát triển chăn nuôi.

Cùng với những bất cập chung, điều này đã tạo ra sự phát triển nóng của riêng từng tỉnh, thiếu tính liên kết vùng, ngành, dẫn đến sự phát triển tự phát. Hậu quả là chẳng những chất lượng không được nâng cao mà việc đầu tư khoa học kỹ thuật cũng không được đáp ứng đúng mức theo yêu cầu liên tục thay đổi của thị trường.

Cái kết của “lợi nhuận khủng” và “nhà nhà nuôi heo”

Thưa ông, việc chạy theo lợi nhuận “khủng” dẫn đến tình trạng “nhà nhà nuôi heo” có gì sai?

Làm kinh tế thì chạy theo lợi nhuận là đúng. Cũng khó trách người chăn nuôi, nhưng nếu chúng ta cứ lạc quan với đồng lời mà thiếu dự báo thị trường thì hậu quả sẽ khôn lường. Đầu năm 2016, heo hơi ở Trung Quốc được mua với giá 55.000 đồng/kg, trong khi giá thành tại Việt Nam chỉ có 38.000 đồng/kg.

Không chỉ người dân ít thông tin mà ngay các doanh nghiệp cũng lao vào nuôi heo. Một số doanh nghiệp hải sản đầu tư nhập heo giống cụ kỵ từ Mỹ về để chăn nuôi, ngay doanh nghiệp thép cũng làm. Sản lượng quá lớn nên dẫn đến dôi dư là hiển nhiên.

Điều đáng quan tâm là của cải xã hội bị lãng phí. Hiện nay các chuồng trại đã được xây dựng xong, giống đã nhập về. Vì vậy, theo tôi song song với việc giải quyết tình trạng dôi dư trong ngắn hạn, cần phải có kế hoạch dài hơi để giải quyết căn cơ tình trạng này, vì nếu không thì chúng ta lại tiếp tục phải “giải cứu”.

Xin ông chia sẻ một số kinh nghiệm từ cách làm của các nước? Bài học này có thể áp dụng cho Việt Nam hay không?

Ở các nước tiên tiến, người ta hạn định số lượng heo nái cho từng vùng. Nếu vượt con số đó thì người nuôi sẽ bị phạt do gây hại đến môi trường. Đây là cách giúp họ kiểm soát được sản lượng. Khi buộc phải nuôi nái theo hạn mức thì cũng đồng thời buộc người chăn nuôi phải đầu tư heo giống chất lượng.

Nó khác tình hình của ta hiện nay. Chúng ta có tổng đàn heo trên toàn quốc khoảng 30 triệu con, trong đó có khoảng 4,2 triệu con heo nái. Đàn nái của chúng ta đứng hàng thứ 4 trên thế giới nhưng sản lượng thịt của chúng ta lại đứng hàng thứ 11, 12.

Ở nước ngoài, 1 con nái sẽ cho 29-30 con/năm, nhưng ở ta cao nhất chỉ khoảng 21 con/năm. Điều đó cho thấy năng suất chúng ta rất thấp nên giá thành của chúng ta cao. Hậu quả là giảm tính cạnh tranh.

Chúng ta có thể tham khảo cách làm của các nước tiên tiến, điều chỉnh nó cho phù hợp tình hình Việt Nam. Nhưng theo tôi điều chỉnh gì thì điều chỉnh cũng phải đảm bảo nguyên tắc sản xuất theo yêu cầu của thị trường, bao gồm cả về chất lượng và sản lượng. Và muốn thực hiện được điều này thì bộ máy kiểm soát phải thật tốt. Không thể nào làm khác được!

Quan trọng nhất: sản xuất theo thị trường

Nhiều ý kiến cho rằng việc ngành chế biến, bảo quản, cấp đông…chưa phát triển cũng dẫn đến tình trạng dôi dư. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Không phải như vậy. Cái gốc của sự dư thừa là do không sản xuất theo thị trường và không định hướng chăn nuôi theo truy xuất nguồn gốc. Còn chuyện cấp đông hay chế biến, chẳng qua là một yêu cầu của thị trường. Nếu có thị trường thì lập tức các doanh nghiệp sẽ tổ chức hạ tầng cho đông lạnh. Tôi tin như vậy!

Thịt heo sạch giá rẻ đang thu hút người tiêu dùng
Thịt heo sạch giá rẻ đang thu hút người tiêu dùng

Ông có lời khuyên nào đối với người nông dân, các chủ trang trại?

Nông dân chúng ta đã có sự tiến bộ rất nhanh. Hiện nay họ chú trọng đầu tư con giống, thức ăn gia súc… Cái khó của người dân là không biết nên ở quy mô nào, sản lượng bao nhiêu, nên luôn trong thế bị động.

Tôi đề nghị bà con hãy chăn nuôi theo khoa học kỹ thuật, có đầu tư khoa học kỹ thuật theo hướng nâng cao chất lượng. Điều quan trọng nhất là sản xuất phải đi theo thị trường, tốt nhất là nên liên kết với các nhà kinh doanh để có thị trường tiêu thụ. Không sản xuất khi chưa có thị trường.

Mối liên kết giữa doanh nghiệp thu mua và người nông dân không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Theo ông, làm thế nào để mối quan hệ này ổn thỏa?

Cả hai phải cân đối quyền lợi, chia sẻ với nhau. Đây là điểm yếu của nông dân chúng ta, khiến mối quan hệ này lỏng lẻo. Đừng bỏ doanh nghiệp khi giá thương lái mua cao hơn. Chăn nuôi phải đảm bảo đúng quy trình, không nên vì lợi nhuận mà làm ăn gian dối.

Các doanh nghiệp lớn như VISSAN, với một quy trình thu mua nghiêm ngặt, không bao giờ chấp nhận cách làm ăn nhỏ lẻ, gian dối. Nhưng bù lại, người chăn nuôi nào đã ký hợp đồng với VISSAN thì không phải lo gì cả.

Quay lại tình trạng thị trường, được biết cửa khẩu Trung Quốc lại bắt đầu “ăn hàng”. Theo ông, đây có phải là tín hiệu vui?

Đúng vậy dù số lượng còn nhỏ giọt, chỉ khoảng 7.000 con heo/ngày. Theo tính toán của tôi, cùng với những giải pháp ngắn hạn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sự vào cuộc của các doanh nghiệp chế biến như VISSAN (đang tăng lượng thịt cấp đông chuẩn bị nguyên liệu cho hàng Tết), nếu như cửa khẩu “ăn hàng” chừng 15 ngày thì chúng ta sẽ giải quyết được tình trạng tồn dư.

Nếu tận dụng cơ hội này để chúng ta tái cấu trúc lại ngành chăn nuôi thì đó là tín hiệu vui. Nhưng nếu thấy ổn, người chăn nuôi lại tiếp tục bị lợi nhuận cuốn đi, thì chắc chắn tình hình sẽ không được cải thiện.

Cái khó hiện nay là chúng ta phải giải quyết các vấn đề tồn đọng, nhưng đồng thời phải hoạch định cho được sự phát triển lâu dài của ngành chăn nuôi. Muốn phát triển bền vững, chúng ta phải xuất khẩu được thịt đông lạnh.

Ở đây đòi hỏi quy hoạch đồng bộ là toàn bộ khâu giết mổ phải đi vào hệ thống giết mổ công nghiệp. Quy hoạch lại hệ thống kho để cấp đông phục vụ xuất khẩu. Điều đáng quan tâm là nhân tiện trong điều kiện hiện nay chúng ta nên cải thiện vấn đề năng suất trong chăn nuôi cũng như phân bố lại vấn đề sản xuất thức ăn gia súc cho phù hợp.

Phải tạo cho người tiêu dùng tập quán dùng thịt heo đi qua mát để giam hãm, hạn chế phát triển vi sinh, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Tôi nghĩ nếu biết biến “đớn đau” này thành hành động thì chúng ta có thể thay đổi triệt để hiện trạng ngành chăn nuôi. Với tư cách là người làm trong lĩnh vực nông nghiệp, tôi yêu cầu, tôi mong mỏi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có một chính sách toàn diện và Chính phủ có một thái độ quyết liệt trong vấn đề này.

Trong thời gian qua, chúng ta đã thực hiện chính sách “qua ngày qua tháng”, mạnh ai nấy làm. Tất cả những cái đó chỉ giúp phát triển cục bộ, chứ hoàn toàn không góp phần phát triển bền vững nền kinh tế đất nước.

Giải pháp ông vừa nêu có khả thi không, vì thực ra nó cũng đã từng được đề cập nhiều lần?

Thật ra, điều đó xuất phát từ trước đây chúng ta nói nhưng chúng ta không triển khai quyết liệt. Điều hành của Bộ cũng như các tỉnh lâu nay chủ yếu là nghe cấp dưới báo cáo. Báo cáo thế nào thì nghe thế ấy, chứ không kiểm tra giám sát chặt chẽ.

Tính thực thi yếu kém, kỷ cương không nghiêm. Theo tôi, trách nhiệm này thuộc về Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, người tối cao nhất phải lo vấn đề này. Cần tránh tình trạng đưa ra văn bản rồi thôi mà phải tăng cường kiểm tra giám sát.

Như vậy, theo ông điều cốt lõi mà chúng ta phải làm được để tránh tình trạng này lặp lại là gì?

Theo tôi, ngoài chuyện chúng ta phải quy hoạch lại vùng chăn nuôi heo, đảm bảo dịch tễ và các yêu cầu về chất lượng để xây dựng vùng nguyên liệu bền vững, thì điều cốt lõi nhất vẫn là làm thế nào để xuất khẩu được sản phẩm thịt heo đông lạnh.

Khi chúng ta làm được điều này, nghĩa là chúng ta không còn lệ thuộc vào bất kỳ thị trường nào, người chăn nuôi có nguồn thu nhập ổn định và các doanh nghiệp chế biến cũng sẽ mở rộng được thị trường. Điều này góp phần rất quan trọng vào việc phát triển nền nông nghiệp bền vững.

Cám ơn ông vì đã tham gia buổi trao đổi này.

LÊ HUY thực hiện

;
.
.
.
.