Trăm phương cò lúa - Nông Thôn Việt

Trăm phương cò lúa

Thứ Sáu, 18/12/2020, 11:32 [GMT+7]

Nói đến “cò lúa”, nông dân thường than thở “cò lúa” lắm chiêu, chốt giá này nhưng rồi ép nông dân bán giá khác, có khi bội tín quay lưng bỏ cọc, thậm chí lừa đảo chở lúa đi rồi mà không thanh toán đủ tiền. Với các doanh nghiệp, chủ nhà máy xay xát thì “cò lúa” lắm lúc khiến các “chủ cò” dở sống dở chết vì thói gian dối, ăn chặn, trở mặt bán đứng luôn “chủ cò”… Với cán bộ quản lý địa phương thì “cò lúa” thao túng thị trường, cấu kết hoành hành, đại náo vùng quê… Thế nhưng vì sao tình trạng “cò lúa” vẫn cứ tồn tại dai dẳng?

 

Không cần vốn đầu tư, không có bất kỳ tư liệu sản xuất nào, nhưng mỗi vụ mùa “cò lúa” vẫn có thể thương thảo mọi dịch vụ mua bán, thuê mướn… và ở giữa “ăn hoa hồng”.  “Cò” sống nhờ tiền hoa hồng từ chủ phương tiện máy móc, từ các chủ vựa, doanh nghiệp. Thực chất, miếng mồi “cò” ăn được gắp ra từ phần thu nhập ít ỏi của người nông dân.
Không cần vốn đầu tư, không có bất kỳ tư liệu sản xuất nào, nhưng mỗi vụ mùa “cò lúa” vẫn có thể thương thảo mọi dịch vụ mua bán, thuê mướn… và ở giữa “ăn hoa hồng”. “Cò” sống nhờ tiền hoa hồng từ chủ phương tiện máy móc, từ các chủ vựa, doanh nghiệp. Thực chất, miếng mồi “cò” ăn được gắp ra từ phần thu nhập ít ỏi của người nông dân.

Cốc mò, cò xơi

Không cần vốn đầu tư, không trồng lúa, không có máy gặt đập liên hợp, không ghe vận chuyển, không lò sấy, không nhà máy xay xát… “cò lúa” chỉ cần lẹ chân, dẻo miệng, có quan hệ rộng là có thể đàng hoàng mua bán lúa, cung cấp máy gặt đập liên hợp, máy cày xới, ghe vận chuyển, thậm chí dàn xếp luôn việc hút rơm, cày xới đất để chuẩn bị cho vụ kế tiếp. “Cò” mặc nhiên đánh giá lúa đẹp hay lúa xấu để thương thảo và chốt giá với nông dân, phân chia lãnh địa hoạt động và câu kết nhau làm lũng đoạn giá cả thị trường. Ví dụ, khu vực nào thuộc địa bàn làm ăn của “cò” A thì “cò” B sẽ đến gặp nông dân chê bai đủ đường và đưa ra giá mua rất thấp, để sau đó “cò” A đến chỉ cần xởi lởi chốt giá cao hơn chút là sẽ được nông dân tín nhiệm ngay. Đổi lại, một ngày khác ở địa bàn khác, “cò” A sẽ đóng vai ác để “trả công” cho “cò” B.

Nhiều nông dân túng tiền nên nhận cọc bán lúa ngay trước khi gieo sạ. Đến khi thu hoạch, nếu giá lúa thị trường cao hơn giá đã thỏa thuận, “cò” có tâm còn chủ động nâng giá lúa thêm chút đỉnh cho nông dân đỡ thiệt, nhưng gặp cò “ăn xổi, ở thì” thì nông dân đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Trường hợp giá lúa xuống thấp thì “cò” sẽ kỳ kèo và tìm đủ lý do như máy gặt bận, lò sấy bị ứ hàng… để trì hoãn việc cắt lúa. Mà treo lúa trên đồng thêm ngày nào thì nguy cơ thất thoát càng cao, chẳng may mưa bão, lũ lụt bất ngờ ập đến là kể như bà con nông dân mất trắng. Trong tình cảnh đó, nếu nông dân xót ruột muốn bán cho người khác thì phải đền cọc, mà cũng không chắc có ai mua, thế là đành hạ giá bán lúa.

“Cò” có vị thế của “cò”!

Anh Nguyễn Văn Hậu (huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) là một chủ vựa xay xát lớn, mỗi vụ mùa anh thu mua từ 10.000 - 12.000 tấn lúa từ khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả bên Campuchia. Anh chia sẻ: “Gia đình tôi tung quân đi mua giỏi lắm chỉ được 2.000 - 3.000 tấn/vụ. Chính vì vậy, tôi phải nuôi đội ngũ khoảng vài chục cò lúa”. Anh Hậu trả công thu mua cho “cò lúa” vào khoảng 20 - 30 đồng/kg, và ứng tiền trước để “cò” đặt cọc cho nông dân, giá lúa lên xuống thế nào anh thường xuyên gọi điện thông báo ngay cho “cò” biết.

Cho dù nạn “cò” giả danh, ăn chặn, lừa đảo ngày càng tinh vi và mưu mô hơn là có thật, và dù “nuôi cò” có tốn kém, rủi ro… nhưng anh Hậu cũng như hầu hết các chủ chành, chủ nhà máy xay xát hay doanh nghiệp khác, đều chấp nhận chia sẻ lợi nhuận để “nuôi cò”. Bởi nhờ lực lượng môi giới này mà họ mua được nhiều lúa hơn, ít tốn kém chi phí và thời gian tìm kiếm từng nông dân nhỏ lẻ để mua. Nói gì thì việc quản lý vài chục “cò lúa” vẫn dễ dàng, tiết kiệm công sức hơn phải tìm cách liên kết với hàng triệu nông dân nhỏ lẻ manh mún trong không gian rộng lớn.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long - nơi được mệnh danh là vựa lúa lớn nhất Việt Nam, bình quân mỗi hộ nông dân trồng lúa có 1,29ha đất, còn thống kê cho đúng thì có tới 38,4% hộ trồng lúa có dưới 0,5ha đất canh tác. Tập quán canh tác của mỗi hộ lại khác nhau tùy theo kinh nghiệm và ý muốn cá nhân: giống khác nhau, sử dụng phân, thuốc khác nhau, chăm sóc theo quy trình khác nhau. Đến khi thu hoạch thì ruộng trước, ruộng sau, mỗi hộ được vài tấn lúa với chất lượng, màu sắc, mẫu mã cũng khác nhau. Thêm nữa, có rất nhiều doanh nghiệp lớn không mua lúa mà chỉ mua gạo với số lượng lớn. Vậy nông dân không bán lúa cho “cò” thì biết bán cho ai?

Nông dân thích nhận cọc của “cò” vì luôn là tiền mặt chứ không thích nhận ứng trước vật tư, phân thuốc... vì như thế họ thấy phiền hà, lích kích. “Cò” cũng không ép nông dân làm theo quy trình, muốn phun xịt thuốc sao cũng được, chất lượng gạo, tồn dư hóa chất… là chuyện của người khác. Thoải mái vậy nên nông dân khoái. Tuy phải nhọc nhằn suốt mấy tháng chăm sóc lúa với bao thấp thỏm lo âu thiên tai, dịch bệnh, mất mùa, cùng nhiều loại nợ nần, nên chuyện nông dân tìm cách “chơi xấu” lại “cò” cũng không phải là hiếm, nhưng chung quy thì “cò” vẫn có vị thế của “cò”!

Hợp tác để giảm bớt đầu mối trung gian

“Cò” sống nhờ tiền hoa hồng từ chủ phương tiện máy móc, từ các chủ vựa, doanh nghiệp. Thực chất, miếng mồi “cò” ăn được gắp ra từ phần thu nhập ít ỏi của người nông dân. Vậy thay vì “chơi xấu” lại “cò”, nông dân có thể làm gì để không bị “cò” lợi dụng?

Giải pháp thiết thực góp phần ổn định sản xuất, khắc phục tình trạng chuỗi giá trị bị chia cắt bởi nhiều đầu mối trung gian, chính là ở các tổ chức hợp tác của nông dân vận hành theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi. Điều quan trọng không phải là hình thành cánh đồng lớn, mà là xây dựng vùng nguyên liệu đồng nhất đầu ra. Các hợp tác xã xây dựng quy trình canh tác chung, kiểm soát quá trình canh tác của nông hộ, bảo đảm an toàn thực phẩm, mã hóa để truy xuất nguồn gốc và đại diện nông dân để đàm phán và ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản với các doanh nghiệp.

Hợp tác xã Nông nghiệp Phú Thạnh (Phú Tân, An Giang) do 374 nông dân đồng sở hữu là một ví dụ. Hợp tác xã tổ chức 12 dịch vụ để đáp ứng nhu cầu sản xuất của thành viên: Dịch vụ cày xới; Sản xuất lúa giống; Kinh doanh lúa giống; Dịch vụ bơm tưới tiêu; Dịch vụ nạo vét kênh mương bằng cơ giới (Kobe); Cung ứng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật; Dịch vụ phun xịt; Dịch vụ thu gom rơm; Liên kết tiêu thụ lúa, nếp; Chế biến gạo và nếp thơm đặc sản Phú Tân; Cung ứng gạo an toàn; và Tín dụng nội bộ. Nhờ vậy, thành viên hợp tác xã không phải chi hoa hồng cho môi giới, chi phí sản xuất giảm và tất nhiên thu nhập cao hơn.

Từ trường hợp điển hình này cho thấy, các HTX đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng chuỗi giá trị, bảo đảm lợi ích cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng. Đó cũng là một tiêu chí góp phần chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam từ nền nông nghiệp phát triển tự phát là chủ yếu, sang nền nông nghiệp phát triển theo chiều sâu, hướng đến chất lượng cao, giá thành hợp lý, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, xây dựng thương hiệu cho nông sản...

SA KIM

;
.
.
.
.