Không để lỡ chuyến tàu nông nghiệp 4.0 - Nông Thôn Việt

Không để lỡ chuyến tàu nông nghiệp 4.0

Thứ Hai, 12/02/2018, 14:00 [GMT+7]

Thuật ngữ nông nghiệp 4.0 được phân tích và sử dụng đầu tiên tại Đức vào năm 2011. Từ đó đến nay, chuyến tàu 4.0 đã “đón” rất nhiều nước trên thế giới và trong khu vực. Việt Nam đã có chỗ trên chuyến tàu này chưa?

Hướng đi tất yếu

Không nghi ngờ gì nữa, nâng cao năng suất, hiệu quả của chuỗi sản xuất - kinh doanh nông sản là mục tiêu phải đạt được của nhân loại, nếu không muốn… bị đói hoặc suy dinh dưỡng.

Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO), dân số thế giới hiện nay khoảng 7,6 tỷ người (trong đó có đến 12%, tức khoảng 876 triệu người vẫn ở trong tình trạng thiếu đói). Với tốc độ gia tăng như hiện nay, dân số thế giới dự kiến sẽ lên đến 9,8 tỷ người vào năm 2050. Điều này có nghĩa là sản lượng nông nghiệp cần phải tăng 70% để đáp ứng nhu cầu nhân loại vào thời điểm đó. Mặt khác, không chỉ cần đủ ăn, ngành nông nghiệp còn phải sản xuất được các loại lương thực, thực phẩm có chất lượng cao để phục vụ nhu cầu ăn ngon, bổ dưỡng và phòng, chống được bệnh tật. Nhu cầu này hiện đã chiếm một thị phần đáng kể (30 đến 35% dân số) và được dự báo còn gia tăng mạnh mẽ trong những năm tới. Nông nghiệp 4.0 chính là giải pháp cho những thách thức đó.

Thuật ngữ nông nghiệp 4.0 được cụ thể hóa và sử dụng lần đầu tiên tại Đức vào năm 2011, nhưng từ trước đó rất lâu, nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được những kỳ tích trong nông nghiệp nhờ áp dụng thành công những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến - khởi đầu cho cuộc cách mạng 4.0 trong nông nghiệp. Từ năm 2003, Nhật Bản đã lập bản đồ địa hình, kết cấu đất, dinh dưỡng, độ ẩm đất phục vụ cho việc ra quyết định canh tác lúa hợp lý, thông minh; tạo ra nhiều sản phẩm gạo có giá trị dinh dưỡng và chữa bệnh.

Tuy nhiên, thập kỷ thứ 2 của thế kỷ XXI mới thực sự chứng kiến xu hướng “4.0 hóa nông nghiệp”. Năm 2014, ước đã có 2,36 tỷ USD được đầu tư vào công nghệ nông nghiệp chính xác toàn cầu và theo dự báo của Công ty Embedded Computing Design (Abishek Budholiya, 2016), thị trường giải pháp nông nghiệp thông minh toàn cầu tăng trưởng 11,2% hàng năm, ước đạt 40 tỷ USD vào 2026.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ: “Cần tính toán bước đi khôn ngoan”

“Nông nghiệp 4.0” sẽ hỗ trợ người nông dân rất nhiều trong sản xuất, canh tác và tạo ra hàng hóa sản phẩm tốt, nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm thiểu tác động xấu của môi trường. Đây là điều tất yếu, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng và Việt Nam không thể bỏ lỡ “chuyến tàu” này. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ chịu nhiều rào cản để phát triển nông nghiệp 4.0, nên cần có cách tiếp cận khôn ngoan. Nhìn xa hơn nữa, nông nghiệp hay công nghiệp 4.0 đều mang lại rủi ro rất lớn cho những ngành có nhiều lao động. Do vậy khi phát triển cần quan tâm đến chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý.

GS.TS. Nguyễn Văn Bộ, nguyên Viện trưởng Viện Nông nghiệp Việt Nam: “Ba điều kiện cần và một điều kiện đủ làm nền móng cho 4.0”

Thứ nhất là cần có hành lang pháp lý phục vụ cho người sản xuất, chứ không phải dành cho người quản lý. Hành lang pháp lý này phải minh bạch và dễ dàng tiếp cận. Thứ 2, cơ sở hạ tầng phải tương thích với trình độ người sản xuất. Thứ 3, cần có cơ sở dữ liệu phù hợp với ngành hàng và thị trường. Một điều kiện đủ quyết định thành công là người sản xuất và doanh nghiệp phải dũng cảm, tâm huyết với nông nghiệp, bởi nông nghiệp là lĩnh vực nhiều rủi ro.

 

Chọn lối nào?

Nông nghiệp 4.0, theo cách hiểu được cộng đồng quốc tế công nhận, bao gồm nhiều thành tố. Đó là việc ứng dụng cảm biến kết nối vạn vật hầu hết các trang trại nông nghiệp (IoT Sensors); các thiết bị cảm biến và thiết bị thông minh được kết nối và điều khiển tự động trong suốt quá trình sản xuất nông nghiệp giúp ứng phó với biến đổi khí hậu, cải thiện vi khí hậu trong nhà kính; công nghệ đèn LED sử dụng đồng bộ trong canh tác kỹ thuật cao để tối ưu hóa quá trình sinh trưởng, ứng dụng ở các quốc gia có quỹ đất nông nghiệp ít hoặc nông nghiệp đô thị.

Đó còn là giải pháp canh tác trong nhà kính, nhà lưới, sử dụng công nghệ thủy canh, khí canh nhằm cách ly môi trường tự nhiên, chủ động ứng dụng đồng bộ công nghệ. Các tế bào quang điện được lắp đặt nhằm sử dụng hiệu quả không gian, giảm chi phí năng lượng, hầu hết các thiết bị trong trang trại/doanh nghiệp được cấp điện mặt trời và các bộ pin điện mặt trời; sử dụng các thiết bị bay không người lái (drones) và các vệ tinh (satellites) để khảo sát thực trạng thu thập dữ liệu của các trang trại, từ đó phân tích khuyến nghị trên cơ sở dữ liệu cập nhật được để quản lý trang trại chính xác.

Ở mức độ cao hơn nữa, là sử dụng người máy để chăm sóc cây trồng, vật nuôi (ứng dụng tại các quốc gia già hóa dân số và quy mô sản xuất lớn). Công nghệ tài chính phục vụ trang trại trong tất cả các hoạt động từ trang trại được kết nối bên ngoài, nhằm đưa ra công thức quản trị trang trại đạt hiệu quả cao nhất cũng là một thành tố quan trọng khác...

Ở Việt Nam, TS Phạm S, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, một lãnh đạo địa phương dành nhiều tâm huyết cho nông nghiệp công nghệ cao, cho biết, đến nay vẫn chưa có một mô hình nông nghiệp 4.0 nào hoàn chỉnh. Ông Phạm S bình luận: “Sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam có quy mô sản xuất không lớn, do đó chủ trang trại không nhất thiết phải ứng dụng tất cả các thành phần công nghệ nêu trên mà có thể sử dụng bốn đến năm thành phần công nghệ phù hợp với mục tiêu, yêu cầu sản xuất của trang trại; phải hướng đến mục tiêu hiệu quả kinh doanh là chính”. Tuy nhiên, theo ông Phạm S, việc ứng dụng IoT là công nghệ cốt lõi.

Được biết, hiện đã có trên dưới một chục nhà cung cấp giải pháp IoT có mặt tại thị trường Việt Nam như Công ty cổ phần dịch vụ công nghệ IoT - IoT Group, Công ty công nghệ DTT, Tập đoàn FPT, Công ty Konexy, Công ty Hachi, Công ty Rynan Smart Fetilizer, Công ty TNHH Mimosa Technology, Công ty Microsoft Việt Nam, Agricheck… Khó khăn đối với người làm nông nghiệp Việt Nam là chi phí ban đầu thực hiện giải pháp IoT khá cao, bởi các thiết bị phần cứng trong nước vẫn chưa sản xuất được, hầu hết phải nhập ngoại từ Israel, Nhật Bản, Đức, Thái Lan và Đài Loan (Trung Quốc).

Không chỉ là kỹ thuật

Nhìn từ góc độ vĩ mô, TS Lê Thanh Vân, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội nhận định, việc cần làm trước hết là phải xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu về tiềm năng trồng trọt, chăn nuôi và những sản phẩm vượt trội cùng với chỉ dẫn địa lý chi tiết. Tiếp đến là chủ động tìm kiếm kênh kết nối với nền kinh tế, các đối tác tiềm năng thông qua những ứng dụng trên Internet.

“Cần phân tích thế mạnh của từng ngành chăn nuôi, trồng trọt và chế biến, nhu cầu hợp tác sản xuất và cung ứng sản phẩm từ đó đưa ra những cam kết chính sách ổn định, phát triển để thu hút các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính, có kinh nghiệm. Trong đó, cần đặc biệt chú ý đến vệ sinh an toàn thực phẩm”, ông nói và nhấn mạnh yêu cầu tập trung hoàn thiện thể chế nông nghiệp trên cơ sở phân tích, tổng kết thực tiễn để đảm bảo tính khả thi. Bên cạnh đó, theo TS Lê Thanh Vân, cần tiếp tục làm tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao, đủ khả năng tiếp cận, làm chủ công nghệ nông nghiệp…

Phác thảo viễn cảnh triển khai thành công nông nghiệp 4.0, TS Lê Thanh Vân hồ hởi: “Khi ấy, chỉ cần một cú click, ta sẽ biết, chẳng hạn, tại thành phố New Jersey của Mỹ hiện có 20.000 người đang cần 20.000 trái thanh long của Bình Thuận; hay ở Brussels đang cần 10.000 chiếc khăn lụa sen (sợi tơ trong cuống bông sen được kéo ra, se lại và dệt thành lụa, một công nghệ đã có doanh nghiệp Việt ấp ủ ý định phát triển - PV). Và chuỗi sản xuất - logistics sẽ vận hành hết tốc lực để trong thời gian ngắn nhất, với chi phí tiết kiệm nhất, sản phẩm được trao đến tay người tiêu dùng, đem lại lợi nhuận thỏa đáng cho người làm nông nghiệp.”

Cẩm Hà

;
.
.
.
.