Đường vào nông nghiệp công nghệ cao lắm gập ghềnh - Nông Thôn Việt

Đường vào nông nghiệp công nghệ cao lắm gập ghềnh

Thứ Hai, 23/11/2020, 07:58 [GMT+7]

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giai đoạn 2015 - 2020, việc ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) đã làm tăng sản lượng và đóng góp trên 30% giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp. Các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản đã giúp tăng hiệu quả kinh tế từ 10-30%; góp phần thay đổi tập quán, thói quen canh tác, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế của ngành.

 

Tăng hiệu quả kinh tế từ 10-30%

5 năm trở lại đây, riêng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận và đưa vào ứng dụng trong sản xuất 223 giống mới; 158 tiến bộ kỹ thuật (TBKT) mới và 26 sáng chế/giải pháp hữu ích. Đơn cử, ngành chăn nuôi đã chọn lọc thành công dòng lợn nái có số con cai sữa đạt tới 26,1 con/nái/năm; chọn tạo được giống lợn thịt thương phẩm tăng trọng nhanh, tiêu tốn ít thức ăn. Cũng nhờ có đầu tư khoa học chọn lọc và cải tiến quy trình chăn nuôi mà đến nay, các giống gà nội có năng suất trứng, thịt được cải thiện đáng kể. Nhiều loại vắc xin phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm như vắc xin cúm gia cầm, lở mồm long móng, tai xanh, vắc xin tụ huyết trùng trâu bò... đã được nghiên cứu thành công và đưa vào sản xuất.

Về thủy sản, giai đoạn 2015 - 2020 có 13 giống mới, 15 TBKT được công nhận, trong đó phải kể đến việc phát triển thành công giống cá tra tăng trưởng nhanh (trên 20%), cá tra kháng bệnh; làm chủ được công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính, rô phi toàn đực. Giống tôm càng xanh tăng trưởng, tôm càng xanh toàn đực và phát triển vùng tôm - lúa tại bán đảo Cà Mau với năng suất tôm 400 - 500 kg/ha/năm cũng là một thành công có ý nghĩa.

Lĩnh vực cơ giới hóa nông nghiệp, chế biến, bảo quản sau thu hoạch tuy còn tương đối ít sáng kiến, tiến bộ kỹ thuật, song giai đoạn 2015 - 2020 cũng có 1 giải pháp hữu ích và 3 TBKT được công nhận, 5 sáng chế/giải pháp hữu ích được chấp nhận đơn hợp lệ. Công nghệ chế biến lúa gạo của Việt Nam hiện đạt mức trung bình tiên tiến (mức thứ hai từ trên xuống) của thế giới. Một số công nghệ bảo quản quả bằng công nghệ CA, công nghệ MAP, công nghệ phủ màng, công nghệ xử lý chín quả bằng khí ethylene... được nghiên cứu và chuyển giao, góp phần xuất khẩu tươi các sản phẩm vải, nhãn, thanh long, vú sữa, xoài, sầu riêng… sang các thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc.

Việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn ATTP. Doanh thu sản xuất rau trong nhà màng, nhà kính đạt từ 2,5 tỷ đồng đến 9 tỷ đồng/ha, lợi nhuận đạt từ 1,6 đến 4,9 tỷ đồng/ha; doanh thu đối với cây hoa đạt từ 0,5 tỷ đồng đến 9,9 tỷ đồng/ha, lợi nhuận đạt từ 0,3 đến 5,4 tỷ đồng/ha.

Với người làm nông nghiệp, những con số trên đã thể hiện thành thu nhập cụ thể, làm thay đổi hẳn cuộc sống của họ và gia đình, quê hương. Tại Diễn đàn Nông dân Quốc gia lần thứ V với chủ đề “Vốn và công nghệ trong liên kết 6 nhà”, ông Nguyễn Đăng Cường, Giám đốc Công ty TNHH Lucavi (Thuận Thành, Bắc Ninh) cho biết: “Mỗi con vịt trời bán ở chợ quê giá chỉ được 150.000 đồng, nhưng qua công nghệ chế biến của Nhật thì giá lên tới 40 USD/con (khoảng 900.000 đồng). Chính vì thế, nông dân rất cần được hỗ trợ về công nghệ, đặc biệt là khâu chế biến, để gia tăng giá trị hàng hóa”. Hay mô hình trồng dưa lưới Taki, rau thủy canh theo công nghệ Nhật Bản của nông dân Trần Văn Tân - Chủ trang trại Queenfarm (Thanh Hóa) áp dụng quy trình tưới nước nhỏ giọt hiện đại của Israel và mô hình công nghệ sản xuất của Nhật Bản mỗi năm cũng đem lại doanh thu tới 5,4 tỷ đồng…

Tháo gỡ khó khăn, thổi bùng sáng tạo

Theo những người nông dân đã “hái” được những quả ngọt đầu mùa kể trên, nông nghiệp công nghệ cao vẫn còn nhiều nút thắt cần tháo gỡ. Tuy không phải đến bây giờ mới được nhận diện, nhưng với việc Luật Đất đai sửa đổi vẫn chưa thể ra đời, quá trình tích tụ và tập trung đất đai không thể diễn ra suôn sẻ (do quy định hạn điền và thời gian sử dụng đất trong Luật Đất đai 2013 còn nhiều bất cập, thủ tục thuê, chuyển nhượng đất nông nghiệp phức tạp, chưa tạo được động lực thu hút các nhà đầu tư).

Trong khi mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi việc tổ chức sản xuất phải được thực hiện trên quy mô tương đối lớn thì cả nước hiện có hơn 11 triệu héc-ta đất sản xuất nông nghiệp với 78 triệu mảnh ruộng và trên 8,5 triệu nông hộ. Trong đó, có hơn 70% số hộ có diện tổng diện tích dưới 0,5ha, chỉ có 3,4% số hộ có diện tích trên 3ha.

Tiếp theo, cũng lại là một hạn chế cố hữu: vốn. Để thành lập và phát triển một trang trại nuôi quy mô trung bình ứng dụng công nghệ cao cần chi phí cao gấp 4 - 5 lần so với trang trại nuôi trồng truyền thống. Chẳng hạn, đầu tư 1ha nhà kính có đầy đủ hệ thống tưới nước, phun sương, bón phân tự động hóa theo công nghệ của Israel cần ít nhất từ 10 tỷ đồng. Ngân hàng hiện nay không thiếu vốn, nhưng vẫn đòi hỏi phải có tài sản thế chấp, trong khi phần lớn trang trại là đất thuê, nên khi thẩm định, giá trị tài sản không lớn, số tiền vay được không đủ đáp ứng nhu cầu. Quỹ khởi nghiệp của địa phương tuy cũng tạo điều kiện để nông dân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, nhưng số tiền vay được cũng không đáp ứng đủ nhu cầu.

Bên cạnh đó, như ông Nguyễn Đăng Cường chia sẻ, việc ứng dụng các công nghệ hiện đại không hề đơn giản với những nông dân khởi nghiệp. Họ hầu như phải tự mày mò tìm hiểu. “Chúng tôi rất cần các nhà khoa học định hướng để việc ứng dụng khoa học công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất của chúng tôi”, ông nói. Trong khi đó, sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao lại khá “kén” khách hàng, thị trường còn hạn hẹp, không ổn định, dẫn đến hiệu quả sản xuất một số sản phẩm còn thấp, chưa tương xứng với mức độ đầu tư…

Có tìm được giải pháp hiệu quả, đồng bộ cho tất cả những vấn đề này, nông nghiệp công nghệ cao mới có thể phát triển bền vững, dù dư địa còn rất lớn.

CẨM HÀ

;
.
.
.
.