Nỗi lo về độ chênh giữa các vùng miền - Nông Thôn Việt

Nỗi lo về độ chênh giữa các vùng miền

Thứ Năm, 02/07/2020, 09:38 [GMT+7]

Cuối tháng 5 vừa qua, tại Quảng Trị, Bộ NN&PTNT đã tổ chức Hội nghị thường niên toàn quốc hệ thống Văn phòng điều phối Nông thôn mới các cấp năm 2020. Bên cạnh những con số đáng phấn khởi về kết quả đạt được của chương trình, vẫn còn đó những băn khoăn trăn trở về những “vùng lõm“ tồn tại nhiều năm qua.

 

Đến hết tháng 05/2020, cả nước có 5.177 xã (58,2%) đạt chuẩn NTM.
Đến hết tháng 05/2020, cả nước có 5.177 xã (58,2%) đạt chuẩn NTM.

Những bước chuyển về chất

Theo báo cáo của Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương, đến hết tháng 05/2020, cả nước có 5.177 xã (58,2%) đạt chuẩn NTM, tăng 371 xã (5,2%) so với cuối năm 2019, bình quân cả nước đạt 16,2 tiêu chí/xã; 126/664 đơn vị cấp huyện thuộc 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn NTM (28,9%); 09 tỉnh thành phố đã có 100% số xã đạt chuẩn NTM; 02 tỉnh (Nam Định, Đồng Nai) được Thủ tướng Chính phủ công nhận tỉnh hoàn thành xây dựng NTM giai đoạn 2016 – 2020; tỉnh Thái Bình đã trình Thủ tướng Chính phủ công nhận tỉnh hoàn thành xây dựng NTM. Giai đoạn 2016 – 2020, Chương trình đã hoàn thành sớm các mục tiêu được giao, trong đó 08/19 tiêu chí thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM hoàn thành vượt kế hoạch so với mục tiêu được Thủ tướng Chính phủ giao. 37 tỉnh/63 tỉnh hoàn thành và vượt kế hoạch đề ra.

Ông Nguyễn Minh Tiến – Cục trưởng, Chánh Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương cho biết, trong quá trình triển khai, nhiều cách làm sáng tạo, mô hình hiệu quả, sát thực tiễn và đảm bảo chất lượng đã xuất hiện và ngày càng phát triển, được nhân rộng đã đánh dấu một bước chuyển về chất trong thực hiện Chương trình. Đặc biệt, Chương trình Nông thôn mới đã có sự khởi sắc rõ rệt ở cả các tỉnh vùng khó khăn với việc có một số đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn hay hoàn thành xây dựng NTM, như: Trà Vinh, Sóc Trăng, Phú Yên, Quảng Ngãi, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La… Bên cạnh đó, hệ thống cơ chế, chính sách cơ bản hoàn thiện tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương triển khai hiệu quả các nội dung, nhiệm vụ của Chương trình, đồng thời chủ động ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, phù hợp với điều kiện thực tế, để tiếp tục thực hiện theo hướng đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng.

Những vùng lõm

Nỗi đau đáu nhiều năm qua của những người làm chương trình chính là kết quả xây dựng NTM của một số vùng còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước. Nó cho thấy rất rõ độ chênh lệch lớn về kết quả thực hiện giữa các vùng, miền. Tình hình này đã được nhận diện nhiều năm qua và cũng đã có nhiều giải pháp được đưa ra để khắc phục. Tuy vậy, hiện cả nước vẫn còn đến 45 huyện thuộc 22 tỉnh, thành phố “trắng” xã NTM; 09 tỉnh có số xã đạt chuẩn rất thấp, dưới 30%, không chỉ ở các tỉnh miền núi như: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Sơn La, Điện Biên, Kon Tum mà còn ở tỉnh đồng bằng là Bến Tre.

Đó là chưa kể chất lượng đạt chuẩn và công tác duy trì bền vững kết quả sau đạt chuẩn một số địa phương còn hạn chế; khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu còn thấp. Kết quả kiểm tra cho thấy một nỗi lo khác, đó là chất lượng các công trình cơ sở hạ tầng sau khi đạt chuẩn của một số địa phương đã có dấu hiệu xuống cấp do không được quan tâm, duy tu bảo dưỡng thường xuyên. Một số huyện, xã sau khi được công nhận đạt chuẩn chưa quan tâm đến việc tiếp tục nâng cao chất lượng các tiêu chí mà tập trung nhiều vào xây dựng NTM kiểu mẫu.

Quan trọng nhất vẫn là vấn đề sinh kế

Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương xác định, đến hết năm 2020, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là rà soát, đánh giá hiệu quả của các cơ chế, chính sách thực thi trong giai đoạn 2016 - 2020 để đề xuất điều chỉnh, hoàn thiện khung khổ pháp luật, hệ thống cơ chế, chính sách và văn bản hướng dẫn thực hiện giai đoạn 2021 – 2025. Mặt khác, tham mưu Ban Chỉ đạo các cấp chỉ đạo triển khai hiệu quả các giải pháp để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu của Chương trình năm 2020. Trong đó, tập trung vào một số chỉ tiêu: mỗi tỉnh phải có ít nhất 01 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ/công nhận đạt chuẩn NTM; Phấn đấu 100% các huyện của cả nước có xã được công nhận đạt chuẩn NTM trong năm 2020.

Theo đó, các địa phương phải tiếp tục đôn đốc triển khai nội dung của Chương trình để hoàn thành các tiêu chí xây dựng NTM theo hướng chú trọng vào chất lượng và tính bền vững. Cụ thể, đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu trên địa bàn xã, nhất là ở những xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn; tập trung hỗ trợ triển khai xây dựng NTM cấp thôn, bản ở các xã dưới 10 tiêu chí; Tiếp tục thực hiện hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng NTM, trong đó, ưu tiên thúc đẩy phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị; Chú trọng bảo vệ môi trường và tạo cảnh quan nông thôn; bảo tồn và phát huy sự đa dạng, phong phú của các giá trị văn hóa gắn với phát triển kinh tế du lịch ở nông thôn…

Để đạt con số 60% tổng số xã đạt chuẩn Nông thôn mới vào thời điểm cuối năm 2020, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam yêu cầu các địa phương cần rà soát những chỉ tiêu cần thực hiện, đặc biệt, phấn đấu để không còn huyện “trắng” xã Nông thôn mới. Nhưng cần lưu ý không được chạy theo số lượng mà phải quan tâm đến thực chất. Cũng theo ông, quan trọng nhất vẫn là vấn đề sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân. Vì thế, cần đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động cũng như chú trọng phát triển Chương trình OCOP.

 

 

Dịp này, Bộ NN&PTNT đã trao Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước cho Văn phòng Điều phối NTM Trung ương và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho một số cá nhân tiêu biểu vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020.

 

 

 

 

TỔNG NGUỒN LỰC HUY ĐỘNG ĐỂ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH TRONG 5 NĂM (2016 - 2020) DỰ KIẾN KHOẢNG 2.115.677 TỶ ĐỒNG, BAO GỒM:

+ Vốn ngân sách Trung ương đã bố trí đủ 100% so với kế hoạch vốn giai đoạn 2016 - 2020 theo Nghị quyết số 100/2015/QH13 của Quốc hội là 63.155,6 tỷ đồng (chiếm khoảng 3% so với tổng nguồn lực huy động của Chương trình)

+ Vốn ngân sách đối ứng của địa phương khoảng 241.034 tỷ đồng (11,39%)

+ Vốn lồng ghép từ Chương trình MTQG Giảm nghèo bền vững và các chương trình, dự án khác triển khai trên địa bàn nông thôn khoảng 240.034 tỷ đồng (11,38%)

+ Vốn tín dụng khoảng 1.325.857 tỷ đồng (62,67%, trong đó dư nợ tăng thêm trên địa bàn xã thông qua các tổ chức tín dụng là 639.176 tỷ đồng)

+ Vốn doanh nghiệp khoảng 105.540 tỷ đồng (5%)

+ Vốn huy động người dân và cộng đồng đóng góp tự nguyện khoảng 139.298 tỷ đồng (6,58%).

 

THÙY DUNG

 

;
.
.
.
.