Xuất khẩu tôm và tham vọng 10 tỷ USD - Nông Thôn Việt

Xuất khẩu tôm và tham vọng 10 tỷ USD

Thứ Hai, 10/12/2018, 11:24 [GMT+7]

Con tôm là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành thủy sản nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung, được kỳ vọng đến năm 2025 sẽ mang về cho Việt Nam 10 tỷ USD. Ngành nuôi tôm Việt Nam có nhiều dư địa để phát triển, tuy nhiên, cũng vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục. Dưới đây là nhận định của một số chuyên gia về những cơ hội, thách thức trên con đường chinh phục mục tiêu 10 tỷ USD của ngành tôm Việt Nam.

Tiến sĩ Hồ Quốc Lực - nguyên Chủ tịch VASEP, Chủ tịch Hội đồng quản trị FIMEX Việt Nam: "Con tôm Việt Nam có một bức tranh sáng sủa"

 Năm 1986, lần đầu tiên Việt Nam sản xuất nhân tạo thành công con tôm sú. Đến năm 2000, tôm thẻ chân trắng du nhập vào nước ta, được nuôi ở miền Trung và dần đi xuống miền Nam. Đến nay, Việt Nam trở thành cường quốc sản xuất và cung ứng tôm với sản lượng đứng hàng thứ 3 trên thế giới. Thực tế, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nuôi và chế biến tôm xuất khẩu như diện tích đất có thể nuôi tôm lớn, thời tiết gần như có thể nuôi tôm quanh năm, năng suất nuôi đạt mức trung bình khá… Bên cạnh đó, có thể nói chưa bao giờ Chính phủ và các bộ ngành liên quan nhập cuộc mạnh mẽ vào lĩnh vực nuôi tôm như hiện nay.

Để đạt mục tiêu đến 2025, diện tích nuôi tôm chạm mốc 750.000ha, sản lượng 1,1 triệu tấn, xuất khẩu sản phẩm tôm đạt 10 tỷ USD, chúng ta cần phải có một lượng tôm giống rất lớn. Đến thời điểm này, các cơ sở sinh sản nhân tạo tôm giống tại Việt Nam cũng đã phát triển về quy mô với khả năng cung ứng lên tới 100 tỷ con tôm con.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn khoảng 1.700 cơ sở nhỏ lẻ tổ chức sinh sản nhân tạo tôm dẫn đến tình trạng tôm bố mẹ chưa chuẩn mực, đến từ nhiều nguồn chất lượng khác nhau; việc chủ động tôm giống tốt, sạch bệnh còn hạn chế.

Cuối năm 2017, Tập đoàn Việt - Úc công bố đã nghiên cứu, gia hóa và sản xuất tôm bố mẹ thành công, nhưng cũng chỉ mới cung ứng được cho một phần rất nhỏ của thị trường. (Gia hóa tôm là quá trình thuần hóa, làm thay đổi mức độ di truyền tính trạng; qua chọn lọc tạo ra những tính trạng tốt nhất như tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt... – PV).

Công tác nghiên cứu chọn tạo, gia hóa và sản xuất tôm bố mẹ, tôm giống là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp bách, chính vì vậy, hết sức cần thiết có chương trình gia hóa tôm bố mẹ cấp quốc gia, đồng thời kiểm soát hệ thống cung ứng tôm giống chặt chẽ hơn. Chủ động được nguồn tôm bố mẹ sẽ giúp giảm chi phí đầu vào, giảm giá thành nuôi tôm, từ đó tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm tôm tại các thị trường nhập khẩu.

Bên cạnh đó, cần có quy hoạch vùng nuôi chi tiết hơn và có đầu tư thỏa đáng, đồng bộ về cơ sở hạ tầng. Hai yếu tố hàng đầu để đảm bảo sự thành công trong nuôi tôm đó là chất lượng con giống và nguồn nước.

Thế nhưng Việt Nam vẫn đang gặp khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng nguồn nước, nguyên nhân là do quy hoạch hệ thống thủy lợi chưa hoàn thiện, nhiều vùng nuôi thiếu điện, nước, đường giao thông… Trong khi đó, ở Việt Nam diện tích nuôi tôm tự phát nhiều, nuôi nhỏ lẻ chiếm tỷ trọng cao, vì vậy người nuôi rất khó bố trí đủ cơ sở hạ tầng đạt tiêu chuẩn cũng như hạn chế khả năng tiếp cận những yếu tố đầu vào chất lượng cao.

Hiện nay cả nước có 65 trang trại nuôi áp dụng tiêu chuẩn BAP và 85 trang trại nuôi áp dụng tiêu chuẩn ASC, nếu tính trung bình diện tích một trang trại là 100ha thì tổng diện tích nuôi đạt tiêu chuẩn quốc tế cũng chỉ chiếm một phần nhỏ tổng diện tích nuôi tôm của cả nước. Vì vậy, cần thực hiện các vùng nuôi lớn, quy mô trang trại theo chuẩn quốc tế trên cơ sở thành lập HTX nuôi hoặc tích tụ ruộng đất.

Con tôm Việt Nam có một bức tranh sáng sủa, nhưng vẫn còn đó những tồn tại. Chúng ta phải xây dựng được vị thế cho tôm Việt Nam và giữ được vị thế đó một cách bền vững.

TS. Hoàng Tùng - Chuyên gia của Cơ quan nghiên cứu Khoa học công nghệ Australia (CSIRO): Nuôi tôm không thể chỉ "Thả xuống và cầu may"

 Khi thực hiện mục tiêu quốc gia phát triển ngành nuôi tôm đến năm 2025 giá trị xuất khẩu đạt 10 tỷ USD, cần lưu ý trong 10 tỷ USD đó, bao nhiêu phần trăm là lợi nhuận. Chúng ta không nên gây ấn tượng bằng số lượng mà cần chú trọng đến hiệu quả sản xuất. Thu nhập là con số cuối cùng nhìn thấy được còn chi phí đầu tư thì gồm rất nhiều khoản như giống, thức ăn, điện… cần phải tính toán kỹ, nếu không thì sẽ rơi vào tình trạng làm vất vả nhưng lợi nhuận lại không bao nhiêu. Phải hướng đến sản xuất nhiều hơn với chất lượng cao hơn, chi phí thấp hơn chứ không thể “lấy công làm lời”.

Muốn cải thiện ngành tôm là phải cải thiện cả hệ thống, bao gồm cả công tác đầu tư nghiên cứu phát triển tôm bố mẹ, tôm giống, thức ăn, lợi khuẩn, quy trình nuôi… cũng như cần có chính sách, đầu tư cơ sở hạ tầng… Tuy nhiên cần phải xác định tăng trưởng được kỳ vọng ở đâu, khâu tăng trưởng nào là quan trọng nhất để có mức đầu tư hợp lý.

Trong điều kiện như hiện nay, chúng ta không nên đặt nặng vấn đề nghiên cứu phát triển, các nước tiên tiến đã đi rất xa trong lĩnh vực này, chúng ta nên chọn lọc để ứng dụng chứ không nên đầu tư nghiên cứu lại từ đầu. Thay vào đó cần tập trung vào phương thức triển khai. Tăng sản lượng tôm đồng nghĩa với việc chúng ta phải mở rộng được thị trường tiêu thụ, trong khi đó Việt Nam không phải là nhà cung cấp tôm duy nhất trên toàn cầu. Vì vậy rất cần thiết phải tăng cường sức cạnh tranh cho mặt hàng tôm của Việt Nam.

Chúng ta có ưu thế về nguồn lực tự nhiên và quy mô sản xuất, nhưng nếu không cải thiện các yếu tố như giá, chất lượng, thương hiệu, giá trị gia tăng, cải tiến kỹ thuật… thì sẽ rất khó để cạnh tranh với các nước xuất khẩu khác. Bên cạnh đó, thực tế hiện nay giá tôm ở thị trường nội địa đang đắt hơn ở thị trường xuất khẩu, nếu giảm được chi phí sản xuất, giá thành cũng sẽ giảm, tiêu thụ trong nước cũng sẽ tăng lên.

Ngoài việc thúc đẩy công nghệ và quản lý sản xuất, người nuôi tôm cũng cần phải có quan điểm kinh doanh và năng lực của nhà sản xuất. Nuôi tôm phải được coi là một hoạt động kinh doanh chứ không phải chỉ là hoạt động sản xuất đơn thuần, không thể có tư duy “thả xuống và cầu may”. Vì vậy cần chú trọng đến thông tin thị trường, giá cả, xu hướng nuôi trồng...

Ông Jiro Takeuchi - Giám đốc Công ty Bonmea GmbH (Đức): "Cần tìm hiểu thực trạng trước khi đặt ra tham vọng"

Năm 2017, tổng khối lượng tôm nhập khẩu vào EU là 541.501 tấn, trị giá 4,17 tỷ EUR. Việt Nam là nước đứng thứ 3 xuất khẩu tôm vào EU. Hiện nay, tiêu thụ tôm ở khu vực này có xu hướng tăng nhu cầu với tôm hấp nguyên liệu phục vụ cho MAP (sản phẩm đóng gói khí quyển biến đổi). Các chương trình chứng nhận tập trung vào các vấn đề môi trường, xã hội, an toàn thực phẩm. 

Vì vậy, muốn khai thác tốt các thị trường xuất khẩu tại EU, Việt Nam nên đầu tư vào các trang trại nuôi tôm siêu thâm canh được đảm bảo và kiểm soát chặt chẽ, tăng sản lượng tôm không sử dụng hóa chất và thuốc cũng như các sản phẩm chất lượng cao.

Bên cạnh đó, tăng số lượng trại nuôi, nhà máy chế biến được chứng nhận các biện pháp thực hành nuôi tốt, an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, xã hội, đồng thời nâng cấp dây chuyền chế biến đáp ứng tiêu chuẩn bán lẻ của châu Âu. Về mặt nhân sự, đội ngũ công nhân cũng cần được đào tạo, có kỹ năng tốt.

Ông Lê Văn Quang - Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Tập đoàn Thủy sản Minh Phú: Cần đảm bảo chất lượng và đa dạng sản phẩm

 Các thị trường xuất khẩu lớn và nhiều tiềm năng như: Mỹ, Nhật, châu Âu... kiểm soát rất gắt gao về vấn đề dư lượng kháng sinh trong sản phẩm tôm. Vì vậy, cần phải có giải pháp mạnh mẽ để ngăn chặn vấn đề sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm, đừng để xảy ra tình trạng thủy sản Việt Nam bị ngăn chặn, cấm xuất khẩu vì kháng sinh. Chúng ta cần kiểm soát chặt kháng sinh trước khi các đối tác nhập khẩu có những biện pháp mạnh như thẻ vàng hải sản. Mặt khác, chi phí kiểm dư lượng kháng sinh cũng rất tốn kém. 

Để kiểm soát được kháng sinh trong sản phẩm thủy sản, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, Minh Phú đã và đang đầu tư các phòng lab kiểm tra kháng sinh tại các vùng nuôi với chi phí đầu tư bình quân là 10 tỷ đồng/phòng lab và chi phí kiểm tra kháng sinh cho 1kg tôm nguyên liệu khoảng 6.000 đồng, quy ra 1kg thành phẩm tốn khoảng 9.000 đồng/kg. Chi phí đầu tư lớn như vậy đã làm tăng giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm tôm Việt Nam với các quốc gia khác.

Hiện nay hầu hết các thị trường khi nhập khẩu tôm rất chú trọng đến màu sắc của tôm. Họ ưa chuộng tôm khi luộc lên có màu đỏ, trong khi đó phần lớn các sản phẩm tôm nuôi từ Việt Nam khi luộc lên có màu hồng nhạt và trắng, nên khó đạt được yêu cầu của khách hàng. Để cải thiện màu sắc tôm nuôi, người nuôi có thể sử dụng nước biển có độ mặn từ 25%o trở lên, như vậy tôm khi luộc lên sẽ có màu đỏ đẹp mắt, hương vị ngon, từ đó tạo được sự khác biệt cho sản phẩm.

Một trong những yếu tố nội tại ảnh hưởng đến thị trường tôm đó là cỡ tôm khi thu hoạch. Trên thực tế, các thị trường đều có nhu cầu mạnh và đa dạng các cỡ tôm khác nhau. Do vậy nếu chỉ nuôi 1 cỡ thì rất khó cạnh tranh và khó tìm kiếm khách hàng. Ở Việt Nam, người nông dân thường chỉ thu hoạch tập trung một lần khi tôm đạt kích cỡ 30 – 50 con/kg. Với cách thức này, tôm nuôi vừa chậm lớn, lại hạn chế khả năng cạnh tranh vì nguồn cung không phù hợp vói nhu cầu của thị trường.

Bên cạnh đó, khi người nuôi thu hoạch đồng loạt, tập trung ở cùng một cỡ thì mặt hàng tôm cỡ đó sẽ dư thừa trong khi các cỡ khác lại không có, dẫn đến thị trường “thiếu mà thừa”, khiến giá tôm của cỡ thừa thì giảm còn các cỡ khác thì không có để bán.

Để khắc phục vấn đề này, người nuôi nên áp dụng giải pháp thu hoạch tỉa. Khi tôm nuôi được 60 – 65 ngày tuổi thì tiến hành thu tỉa lần đầu 50% lượng tôm nuôi trong ao, trọng lượng bình quân đạt 65 – 70 con/kg. Đến khi tôm nuôi được 80 – 85 ngày tuổi thu tỉa lần hai 50% lượng tôm nuôi trong ao, trọng lượng bình quân đạt 40 – 45 con/kg và thu hết lượng tôm trong ao khi tôm nuôi được 110 -115 ngày tuổi, trọng lượng bình quân đạt 20 – 25 con/kg.

Ban Dung ghi

;
.
.
.
.