'Chìa khóa' ngành điều Việt - Nông Thôn Việt

'Chìa khóa' ngành điều Việt

Thứ Sáu, 08/11/2019, 14:58 [GMT+7]

Chỉ sau hơn 30 năm phát triển, Việt Nam đã khẳng định vị thế là một quốc gia đầu ngành với sản lượng điều xuất khẩu lớn nhất thế giới trong 13 năm liền. Tuy vậy, ngành điều việt vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn đòi hỏi được giải quyết rốt ráo. Tạp chí Nông thôn Việt đã có buổi trao đổi với ông Phạm Văn Công - Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam để cung cấp đến bạn đọc cái nhìn đầy đủ hơn về ngành điều Việt.

 

Ông Phạm Văn Công - Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam.
Ông Phạm Văn Công - Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam.

 

Theo ông, đối với ngành điều Việt Nam hiện nay, đâu là lợi thế lớn nhất và đâu là khó khăn lớn nhất?

Đề cập đến lợi thế của ngành điều Việt, có thể nói chính là công nghệ chế biến tiên tiến nhất thế giới! Và tôi tự hào rằng đó là công sức rất lớn của các kỹ sư chế tạo máy móc và những người chủ các doanh nghiệp chế biến điều trong nước.

Từ năm 2008 đến nay, nhờ cải tiến về khoa học kỹ thuật, chế tạo được các loại máy móc tiên tiến, ngành điều đã thoát ly được chế biến thủ công và đảm bảo được vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, sản phẩm điều nhân xuất khẩu đạt tiêu chuẩn nhập khẩu của Mỹ (AFI). Nhờ vậy, hạt điều nhân của Việt Nam luôn được các nhà nhập khẩu quốc tế đánh giá cao về chất lượng.

Trước đây, chi phí cho khâu sản xuất chế biến 1kg hạt điều nhân xuất khẩu phải mất đến 20.000 đồng, hiện nay chỉ còn từ 8.000 - 10.000 đồng. Theo tôi, công nghệ chế biến chính là chìa khóa để hóa giải hiệu quả các khó khăn mà ngành điều Việt phải đối mặt.

Còn khó khăn lớn nhất của ngành điều từ trước đến nay luôn là vấn đề tài chính. Ngành điều có đặc thù là phải dự trữ hàng trong kho với số lượng lớn do một năm chỉ có một vụ kéo dài 4 tháng và phải xoay vòng vốn, gối đầu liên tục. Tài chính yếu sẽ làm cho các doanh nghiệp không thể tự chủ được giá xuất khẩu và thời gian xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp buộc phải vay vốn có khi lên đến cả nghìn tỷ để trữ hàng phục vụ sản xuất.

Tuy nhiên, hiện nay các ngân hàng chỉ cho vay ngắn hạn chứ chưa có chính sách cho vay trung dài hạn. Cụ thể, khi đến kỳ hạn thanh toán ngân hàng thì doanh nghiệp buộc phải xuất hàng để trả lãi dù cho bị ép giá hoặc có những lúc các doanh nghiệp nhìn thấy trước thời điểm cơ hội đến nhưng không thể nắm bắt vì không đủ lực về tài chính. Cuối cùng, lợi nhuận mà lẽ ra ngành điều Việt được hưởng lại chạy vào túi các nhà nhập khẩu phân phối ở nước ngoài.

Hình minh họa
Hình minh họa

Một khó khăn nữa là việc quản lý các công ty “siêu nhỏ”. Hiệp hội Điều Việt Nam có 500 doanh nghiệp, nhưng “làng điều” hiện có gần 4.000 doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp “siêu nhỏ” với mức đầu tư chưa đến 1 tỷ, nhân công chỉ khoảng 5, 7 người, công suất chỉ vài chục đến 100kg/ngày và hoạt động không thường xuyên. Hầu hết người quản lý của những doanh nghiệp “siêu nhỏ” này thường xuất thân từ lao động phổ thông hoặc không có kiến thức sâu về ngành điều, dẫn đến sản xuất không hiệu quả, không đảm bảo chất lượng đầu ra theo tiêu chuẩn ISO, HACCP cũng như các chính sách thu hồi sản phẩm… gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và danh tiếng của cả ngành điều Việt.

Phải chăng các khó khăn ông vừa nêu đã khiến những năm gần đây xuất khẩu điều có xu hướng tăng về lượng nhưng giảm về trị giá, thưa ông?

Tôi nghĩ không hẳn vậy! Cách đây 4 - 5 năm, thị trường thế giới chứng kiến giá điều tăng vọt, giá thành xuất khẩu thực tế chỉ khoảng 3.2 USD/lb (1lb = 0.45kg) trên mã hàng WW 320 (mã hàng ngành điều thường dùng làm giá bình quân) đã bị đội lên tới 4.5 - 5 USD/lb, chủ yếu là do nhu cầu tăng. Thời điểm đó, để đảm bảo hoàn thành các hợp đồng xuất khẩu đã ký, các doanh nghiệp đành chịu lỗ do phải thu mua điều thô với giá cao nhằm đủ số lượng cung cấp cho chế biến. Điều này tạo ra khan hiếm giả, làm cho trị giá điều xuất khẩu tăng, nhưng không ít doanh nghiệp đã vì thế mà phá sản.

Khoảng hai năm nay, nhà nước có một số cơ chế, chính sách phù hợp, tạo thêm điều kiện phát triển cho ngành điều. Trong bối cảnh nhiễu thông tin - trong đó có không ít thông tin sai lệch, một chiều - Hiệp hội Điều Việt Nam đã tìm mọi cách để nghiên cứu, phân tích thông tin hoạt động kinh doanh trong ngành, nhằm cung cấp những thông tin chuẩn xác, hỗ trợ các doanh nghiệp hoạch định chiến lược kinh doanh phù hợp, góp phần ổn định giá cả trên thị trường. Nếu năm 2017 - 2018 giá điều nhập từ 2.300 - 2.500 USD/tấn, thì trong năm 2019 có thời điểm giá điều giảm đến 700 USD/tấn, tức là giảm được khoảng 30%. Lúc này giá xuất khẩu buộc phải trở về giá thật, dĩ nhiên trị giá xuất khẩu sẽ giảm. Vấn đề là tuy trị giá giảm nhưng các doanh nghiệp chế biến sẽ có lời.

Từ năm 2010 đến nay, ngành điều Việt Nam chỉ cung cấp được từ 20 - 30% sản lượng, phần còn lại chúng ta phải nhập khẩu. Điều này gây ảnh hưởng thế nào đến chất lượng và thương hiệu điều Việt?

Mấy chục năm trước cây điều được trồng nhiều, được xem là “cây xóa đói giảm nghèo”. Tuy vậy, trong vòng 15 - 20 năm trở lại đây, nhiều địa phương phát triển đô thị dẫn đến diện tích trồng điều bị thu hẹp. Như Bình Dương chẳng hạn, trước đây tỉnh này cung cấp ít nhất 30% sản lượng, nhưng nay thì tất cả các khu trồng điều của Bình Dương gần như biến mất. Bình Phước cũng trong tình trạng tương tự. Trong khi điều là cây dễ trồng nhưng kén đất, chỉ trồng được ở một số vùng nhất định, nên cũng không thể mở rộng diện tích trồng điều sang các vùng miền khác.

Có thể nói việc nhập khẩu 70 - 80% điều thô đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng hạt điều xuất khẩu của Việt Nam. Từ nhiều năm trước, hạt điều Việt - cụ thể là điều Bình Phước - đã được Hội đồng Hạt - Quả khô quốc tế nhận định là có hàm lượng dinh dưỡng số 1 thế giới nhờ được trồng ở vùng có khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp cho cây điều. Ngoài ra, khi nhập khẩu điều thô (từ châu Phi), chúng ta cũng không thể kiểm soát tốt về chất lượng, độ ẩm nên tỷ lệ hao hụt do hư hỏng, ẩm mốc khá lớn.

Ông có thể dự đoán về sự phát triển của ngành điều Việt trong thời gian tới và đưa ra lời khuyên cho các doanh nghiệp?

Từ nay cho đến cuối vụ (tháng 2 năm sau), theo Hiệp hội Điều Việt Nam đánh giá thì thị trường điều sẽ không có biến động nhiều, vì lượng hàng trong kho và nhu cầu tiêu thụ trên thị trường quốc tế đang tương đương nhau. Thời gian xa hơn một chút, nếu có biến động thì cũng chỉ rất nhỏ.

Riêng với các doanh nghiệp, tôi cho rằng họ cần lắng nghe các thông tin đa dạng, đa chiều. Phần lớn các nhà môi giới hiện nay ở Việt Nam đều uy tín và chuyên nghiệp, đã góp phần rất lớn và tích cực cho sự phát triển của ngành điều. Tuy vậy, cũng còn số ít môi giới mới ra nghề, không chuyên nghiệp và chưa hiểu tường tận về luật môi giới quốc tế, thường đưa ra các thông tin phiến diện, sai lệch. Do đó, các doanh nghiệp cần phân tích chọn lọc thông tin và tìm ra phương án phù hợp để áp dụng cho doanh nghiệp mình.

Theo ông đâu là giải pháp để phát triển bền vững ngành điều Việt trong tương lai?

Theo tôi, có 3 vấn đề chính cần xem xét thay đổi để tạo điều kiện phát triển ngành điều. Trước hết là về tài chính, tôi nghĩ hệ thống ngân hàng cần xem xét cho các doanh nghiệp chế biến điều vay vốn trung, dài hạn để họ có đủ khả năng trữ hàng, không bị áp lực về vốn, từ đó đón được cơ hội xuất khẩu với giá cao và không bị các đối tác ép giá.

Tiếp đến là vấn đề vùng nguyên liệu, nhà nước cần quy hoạch tăng diện tích trồng điều để giảm rủi ro nhập khẩu. Theo phân tích của Hiệp hội Điều, với thế mạnh về công nghệ chế biến hiện nay, dù có giảm sản lượng xuất khẩu xuống còn 1 triệu tấn nhưng trong nước cung cấp được 70% thì chúng ta chắc chắn sẽ làm chủ được giá điều thế giới.

Cuối cùng, nhà nước cần có chính sách quản lý các nhà máy chế biến nhỏ và “siêu nhỏ” theo hướng quy hoạch lại quy mô sản xuất. Theo đó, nhà máy phải đạt năng suất tối thiểu 2.000 tấn/năm mới được phép xuất khẩu.

Khi giải quyết được các vấn đề cốt yếu này, tôi tin rằng ngành điều sẽ phát triển mạnh mẽ và đóng góp nhiều hơn nữa cho kinh tế nước nhà.

NGỌC PHƯƠNG thực hiện

;
.
.
.
.