Thị trường ngách cho bưởi Da xanh - Nông Thôn Việt

Thị trường ngách cho bưởi Da xanh

Thứ Ba, 18/04/2017, 09:06 [GMT+7]

Những từ khóa “tỷ phú bưởi da xanh” hay “làm giàu với bưởi da xanh” đã trở nên quen thuộc trên các mặt báo nông nghiệp, và câu chuyện về những người nông dân làm giàu nhờ trái bưởi đã không còn lạ nữa. Chỉ tính riêng với tỉnh bến tre, năm 2015, bưởi da xanh bến tre đã mang lại hơn 1,9 ngàn tỷ đồng doanh thu cho người nông dân và hơn 3,3 ngàn tỷ đồng doanh thu cho toàn ngành. Tuy nhiên, dù đã xuất khẩu đến nhiều thị trường như Đức, Canada, Hà Lan, Pháp, Nhật, Trung Quốc, thì nguồn tiêu thụ lớn nhất của bưởi da xanh hiện nay chủ yếu là trong nước.

Chưa cần xuất khẩu?

Ảnh Thảo Nguyên
Ảnh Thảo Nguyên

Thay vì trả lời trực tiếp câu hỏi vì
sao bưởi Da xanh chưa xuất khẩu
nhiều, PGS. TS Nguyễn Minh Châu,
nguyên Viện trưởng Viện Cây ăn
quả miền Nam, kể chúng tôi nghe
một câu chuyện. Cách đây 10 năm,
nhân một người bạn nước ngoài ghé
thăm Việt Nam, ông dẫn người bạn
này ra chợ mua xoài. Xoài Cát Hòa
Lộc từ đó đến nay vẫn là loại xoài
thượng hạng. Khi ấy, giá xoài cát
Hòa Lộc là 60.000 đồng/kg. Ông
kể: “10 năm trước, cái giá 60.000
đồng không hề thấp, nó ngang bằng
với giá xoài của một chợ ở Paris
(Pháp)”. Vị chuyên gia nước ngoài
kia ngạc nhiên hỏi: “Vậy ai ăn”? Tất
nhiên là người dân Việt Nam.
Câu chuyện này ứng với bưởi Da
xanh. Tính theo năm 2013, Thái
Lan là quốc gia có giá bán bưởi cao
nhất thế giới với 1.025 USD/tấn.
Giá bán bưởi Việt Nam cùng lúc này đứng thứ 9, chỉ có 576 USD/tấn, tương đương khoảng 13.000 đồng/kg - thấp hơn rất nhiều so với giá bưởi của thị trường nội địa. Giá bưởi Da xanh Bến Tre bán ra tại vườn khoảng 40.000 - 45.000 đồng/kg tương đương 2.200 USD/tấn, gần gấp đôi so với giá của Thái Lan. Giá bán cao nhưng vẫn được người tiêu dùng chấp nhận, vì bưởi Da xanh là loại bưởi được đánh giá là ngon nhất hiện nay.
Bán ra nước ngoài thì giá “bèo”, trong khi thị trường nội địa vẫn đang tiêu thụ tốt dù có giá bán khá cao - đây cũng là lý do vì sao bưởi Da xanh xuất khẩu chưa nhiều. Hiện nay, bưởi Da xanh đang được xem là một loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao và được nhiều tỉnh chọn làm ngành hàng trái cây chủ lực. Câu chuyện đến đây thì các chuyên gia đặt ra một vấn đề: Trong tương lai, khi diện tích và sản lượng bưởi Da xanh tăng lên, bài toán thị trường tiêu thụ sẽ được giải quyết như thế nào? Liệu câu chuyện “giải cứu” chuối Đồng Nai hay điệp khúc “trồng chặt, chặt trồng” có lặp lại với bưởi Da xanh?

Chọn kênh xuất “xịn”

“Nên nhìn vào dài hạn và đầu tư cho chất lượng”. - TS Hoàng Văn Việt, ĐH Kinh tế TP.HCM, người vừa chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu phát triển thị trường bưởi Da xanh Bến Tre” cho tỉnh Bến Tre, lý giải: “Bởi vì khi nguồn cung trong nước tăng nhiều và thị trường nội địa đã bão hòa, thì việc phát triển ra thị trường xuất khẩu là rất cần thiết”. Cách thâm nhập thị trường xuất khẩu hiệu quả nhất, theo TS Hoàng Văn Việt là, nên đi theo chiến lược là sản phẩm mới theo ngách thị trường cao cấp và đặc sản địa phương. Châu Âu và Đông Á là những thị trường lớn và tiềm năng nhất của bưởi Da xanh với mức giá ổn định và nhu cầu lớn, nhưng đòi hỏi cao về chất lượng và hình thức. Trước tiên, có thể tiếp cận các thị trường gần và tương đồng như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc. Sau đó, có thể hướng tới các thị trường lớn và tiềm năng như châu Âu. Tuy nhiên, để đủ tiêu chuẩn thâm nhập vào các thị trường ngách này, bưởi Da xanh cần đạt những chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế như bảo hộ chỉ dẫn địa lý (PGIs), bảo hộ xuất xứ (PDO), Nông nghiệp tốt (GlobalGAP), Hữu cơ (Organic) hay đặc sản truyền thống (TSG) với hình thức và mẫu mã có tính hình thức cao.
Để làm được điều này, các chuyên gia nhắc đến các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng và liên kết. Bên cạnh duy trì và nâng cao chất lượng giống, phòng và chữa trị sâu bệnh, nâng cấp công nghệ và kỹ thuật trồng, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các địa phương cần hỗ trợ người nông dân trồng bưởi Da xanh đạt được các tiêu chuẩn chất lượng. Vai trò liên kết của mô hình Tổ hợp tác, HTX trong chuỗi tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp cũng cần được các nhà quản lý tại địa phương chú trọng hơn.

Uyên Linh 

;
.
.
.
.