Giống tiêu Việt và cảnh 'hổ giấy'? - Nông Thôn Việt

Giống tiêu Việt và cảnh 'hổ giấy'?

Thứ Sáu, 05/10/2018, 10:21 [GMT+7]

Nắm giữ hơn 60% lượng giao dịch toàn cầu, ngỡ như ngành hồ tiêu Việt Nam đang có trong tay chiếc gậy quyền lực có thể khuynh đảo thị trường. Tuy nhiên, thực tế thì giá trị hạt tiêu của Việt Nam lại đang thấp nhất thế giới và những nông dân gắn với loại cây này cũng đang điêu đứng bởi thu nhập thấp thảm hại.

Để thay đổi hiện trạng đáng buồn này, câu trả lời đã có từ lâu, song dường như lại đang thiếu đi sự quyết tâm cần thiết. Để rồi, từ thứ cơ bản nhất như nguồn giống, canh tác, đến các yếu tố mang tính kỹ thuật như xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý vẫn cứ loay hoay, phập phù.

Mua tiêu giống... như rau 

Để tạo nên một nông sản chất lượng, chưa vội nói đến quá trình canh tác hay các yếu tố như thổ nhưỡng hoặc khí hậu, đầu tiên phải kể đến là có nguồn giống tốt. Những năm gần đây, nông dân ở Đông Nam bộ và khu vực Tây Nguyên phát triển mạnh cây hồ tiêu, thế nhưng cũng thật ngạc nhiên, người ta lại quá ư dễ dãi trong việc chọn mua giống của loại cây có giá trị xuất khẩu tỉ đô này. Dường như, khi một loại cây hay con nào đó đang “sốt”, người ta cứ phải lao vào trồng hoặc nuôi cái đã, những thứ khác… để sau tính.

Hàng năm, khi những cơn mưa đầu mùa trút xuống, cũng là lúc mùa trồng mới bắt đầu. Dọc các trục đường chính, như Quốc lộ 14 ở khu vực Tây Nguyên, không khó để bắt gặp cảnh hàng đống hom tiêu giống được bày bán chẳng khác gì các loại rau ăn hàng ngày.

Người bán thì cứ tung hô rằng đây là giống tiêu sinh trưởng tốt, năng suất vượt trội… Người mua thì chỉ cần nâng hom giống lên quan sát, thấy ưng mắt thì ngã giá rồi trả tiền. Không ít trường hợp hom giống mang về trồng chưa bao lâu đã chết khô. Tìm người bán để bắt đền, thì lại nghe do trồng chưa đúng kỹ thuật. Cũng có khi chẳng thể tìm được người bán, bởi họ bán kiểu “rày đây mai đó”, không có địa chỉ rõ ràng. Vậy là, lại bỏ tiền ra mua hom giống khác trồng dặm, và lại chờ… hên xui.

Nông dân trồng mới hồ tiêu trong mùa mưa 2018.
Nông dân trồng mới hồ tiêu trong mùa mưa 2018.

Thực tế, khi nhu cầu về hom giống của nông dân càng cao, thì những người chuyên cung ứng càng có xu hướng làm ăn chụp giựt. Hàng năm, giới cung ứng cây giống vẫn hay cho xe tải tỏa đến những vùng trồng tiêu có tiếng như Lộc Ninh hay Bù Đốp của tỉnh Bình Phước, tìm đến những vườn tiêu 1 năm tuổi, ngã giá và cho người cắt hom giống hàng loạt. Không ít trường hợp, vườn tiêu để nhân giống đã mang sẵn mầm bệnh, hoặc không đảm bảo thời gian cách ly việc bón phân vô cơ trước khi cắt hom, nông dân khi mua phải những hom giống dạng này kể như ngậm đắng.

Việc nên hoặc không nên canh tác giống tiêu nào hiện tại vẫn do các nông dân tự loay hoay quyết định lấy. Thôi thì đủ cả, từ Vĩnh Linh, Lộc Ninh, tiêu trâu, tiêu Ấn Độ… Người thì chỉ chọn một, người thì “thập cẩm” đủ các giống trong vườn tiêu của mình. Trong 2 - 3 năm trở lại đây, người ta lại kháo nhau và đổ xô vào 2 giống tiêu ngoại nhập mới là Srilanka và Thekken. Khi mà hiệu quả thực tế còn rất mập mờ, bởi năng suất hay khả năng kháng bệnh vượt trội chủ yếu chỉ do người bán quảng cáo, không ít nông dân lại sẵn sàng chi tiền, bất chấp giá bán hom giống cao gấp nhiều lần so với các giống tiêu truyền thống. Lại trông chờ may rủi!

Loay hoay tạo giá trị

Ồ ạt trồng, ưu tiên năng suất thay vì chất lượng đã đưa ngành hồ tiêu Việt Nam vươn lên hàng đầu thế giới về khối lượng giao dịch. Thế nhưng, thật bẽ bàng khi hồ tiêu Việt Nam chỉ có tiếng về sản lượng, còn về mặt giá trị thì lại chẳng là gì so với Ấn Độ, Malaysia… hay thậm chí là “người láng giềng tí hon” Campuchia. Thế là, người ta lại kêu gào nhau nâng cao chất lượng cho hồ tiêu Việt Nam, bằng việc canh tác theo hướng hữu cơ bền vững, hạn chế hoặc đảm bảo thời gian cách ly khi sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, v.v…

Về cơ bản, đó là giải pháp đúng và cần thiết. Tuy nhiên, dường như đó chỉ mới là “điều trị triệu chứng” chứ chưa phải là loại bỏ vấn đề từ trong cốt lõi. Bởi lẽ như đã nói ở trên, nông dân Việt hiện trồng rất nhiều giống hồ tiêu khác nhau, cả truyền thống lẫn nhập ngoại. Dĩ nhiên, mỗi một giống sẽ cho ra sản phẩm với kích cỡ hạt, hình dáng, độ cay… khác nhau, qua đó, chất lượng cũng không giống nhau. Bên cạnh những giống đã được kiểm nghiệm và có chất lượng chấp nhận được, thì cũng thật đáng lo ngại, khi có cả những giống chưa hề được kiểm nghiệm một cách nghiêm túc.

Những giống tiêu cho năng suất tốt thì chưa hẳn đã có chất lượng đáp ứng được các yêu cầu của thị trường. Thế nhưng, nông dân Việt lại có xu hướng chọn trồng giống tiêu năng suất cao hơn là giống có sản phẩm đạt chất lượng tốt. Cũng khó trách được họ, trong vòng xoáy của cơn khủng hoảng giá hiện nay, thì năng suất cao cũng phần nào giúp họ bớt đi sự lỗ lã.

Bên cạnh đó, họ cũng chẳng có phương tiện hay khả năng để phân tích từng thành phần của hạt tiêu, để biết loại nào có chất lượng tốt nhất. Về phía ngành chức năng hay các đơn vị chuyên môn, cũng chưa có nơi nào tiến hành nghiên cứu, đánh giá toàn diện về các giống tiêu một cách nghiêm túc và khoa học, để có sự khuyến cáo cần thiết.

Hiện nay, việc xây dựng thương hiệu gắn với chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc trở thành yếu tố để nâng tầm cho bất cứ loại nông sản nào. Việt Nam có không ít vùng trồng hồ tiêu nổi tiếng như Lộc Ninh, Chư Sê hay Phú Quốc… Song, việc có quá nhiều giống tiêu với chất lượng không đồng đều được trồng trong một vùng, thậm chí một vườn, sẽ tạo ra những hạn chế nhất định trong việc xây dựng và quản lý thương hiệu.

Tiếp thị kém

Việc xây dựng thương hiệu đã khó, thế nhưng, việc khai thác sao cho hiệu quả cũng lại là một vấn đề có thể nói là còn yếu kém của ngành hồ tiêu Việt Nam. Không ít trường hợp nhãn hiệu tập thể sau khi được công nhận và bảo hộ rồi thì lại được… cất trong hộc tủ. Đối với phần lớn nông dân, họ vẫn có thói quen bán sản phẩm làm ra cho thương lái với giá thấp. Đơn giản, cụm từ “chỉ dẫn địa lý” dường như còn khá xa lạ với họ, thì làm sao họ hiểu hết những lợi ích mà nó mang lại.

Tuy nhiên, nói đi cũng phải nói lại, trên thị trường thế giới, các thương hiệu như tiêu Chư Sê, tiêu Quảng Trị hay tiêu Lộc Ninh… gần như cũng chưa tiếng tăm gì. Như vậy, nông dân cũng chưa thể hưởng lợi từ các thương hiệu tiêu Việt. Rõ ràng, chúng ta còn thiếu một chiến lược tiếp thị đủ tầm để vừa tạo sự chú ý, vừa khẳng định và được thị trường quốc tế công nhận chất lượng sản phẩm của mình.

Hãy nhìn sang “người hàng xóm” Campuchia, trước đây, nông dân của họ bên cạnh các giống hồ tiêu địa phương cũng đã nhập trồng các giống tiêu của Việt Nam. Đến kỳ thu hoạch, họ cũng lệ thuộc vào các thương lái từ Việt Nam nên giá bán cũng luôn thấp hơn tiêu Việt. Song, hiện nay đã có một sự đổi ngôi đầy ngoạn mục. Người Campuchia đã xây dựng được thương hiệu tiêu Kampot (dựa trên nguồn giống địa phương) nổi tiếng và rất được chuộng trên thị trường quốc tế. Hiện tiêu Kampot đang có giá cao gấp 3 lần so với tiêu Việt, điều khiến cho bất cứ nông dân Việt nào cũng phải chạnh lòng.

Rõ ràng, Campuchia phát triển ngành hồ tiêu sau Việt Nam nhưng sự thành công của họ thì quá đỗi vượt trội. Bên cạnh việc có sản phẩm chất lượng, người đứng đầu ngành thương mại của họ cũng luôn tận dụng cơ hội để mang sản phẩm đến tiếp thị trực tiếp với các nhà tiêu dùng lớn ở những thị trường cao cấp như EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Nhìn lại hồ tiêu Việt Nam, có cảm giác những người làm thương mại chỉ quen và hài lòng với những thị trường dễ tính. Đối với các thị trường cao cấp, bên cạnh sự thiếu tự tin, còn có cả sự e ngại tiếp cận. Xin đừng đổ rằng chất lượng tiêu Việt không đáp ứng được yêu cầu của các thị trường này! Bởi như vậy, nỗ lực của rất đông nông dân trồng tiêu, của hàng chục hợp tác xã tiêu sạch, hóa ra lại không có nghĩa lý gì? Hơn nữa, khi mà người Ấn Độ vẫn đang kiếm lời được nhờ tiêu Việt, thì chỉ có thể là sự buôn bán của ta quá kém!

Phú Hồng

 

;
.
.
.
.