Mật ong - Chuyên đề nông sản Việt - Nông Thôn Việt

Mật ong - Chuyên đề nông sản Việt

Thứ Năm, 05/10/2017, 15:56 [GMT+7]
Trên thế giới, nền công nghiệp mật ong từ lâu đã phát triển mạnh mẽ, nhưng ngành này ở Việt Nam chỉ mới phát triển từ vài chục năm trở lại đây. Tuy vậy, mật ong của Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị trí của mình khi đứng thứ 2 sau Trung Quốc về sản lượng mật ong xuất khẩu ra nước ngoài. 
Theo Hội Nuôi ong Việt Nam (VAB), cả nước hiện có khoảng 1 triệu đàn ong, tổng sản lượng trên 55.000 tấn/năm. Trong đó, khoảng 90% dành cho xuất khẩu sang Mỹ và EU, phần còn lại thâm nhập vào các thị trường khó tính như Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc… Dự kiến đây sẽ là sản phẩm mang lại lợi nhuận rất lớn cho các doanh nghiệp và sẽ nhanh chóng nổi tiếng trên thị trường trong nước lẫn thế giới. 
 
Thông thường, người tiêu dùng chỉ phân biệt mật ong thành 2 loại: mật ong rừng và mật ong nuôi. 
Mật ong rừng được ong hoang dã, sống trong môi trường rừng núi tự nhiên, làm tổ, lấy phấn hoa, làm mật trên các cành/thân cao, hoặc các vách đá cheo leo. Con người không can thiệp vào bất cứ quá trình sinh sống, làm mật của ong. Nếu con người làm tổ nuôi ong, rồi di chuyển đàn ong nuôi đến các vùng nhiều hoa, kể cả vào rừng, để chúng hút mật rồi khai thác, thì đấy là Mật ong nuôi.
Cũng có tiêu chí khác để phân loại mật ong như phân loại theo nguồn hoa, khu vực địa lý, kỹ thuật thu mật, màu sắc…Phổ biến là cách phân loại mật ong theo nguồn hoa: dựa vào tỉ lệ mật ong được tạo thành bởi nguồn hoa nào nhiều nhất, từ đó làm cơ sở để xếp loại mật ong đó. 
Ở Việt Nam, mật ong được tạo nên từ các nguồn hoa như tràm, cao su, cà phê, điều, nhãn, vải, chôm chôm… hoặc nhiều loại hoa (đa hoa).
 
 
1 (16).jpg
Một mô hình nuôi ong 
 
 
1. Mật ong hoa nhãn: Được tạo thành do ong thợ hút mật từ hoa nhãn là chủ yếu. Các vùng trồng nhãn nổi tiếng như Hưng Yên, Lạng Sơn, Điện Biên Phủ… cũng là vùng phân bổ của mật ong hoa nhãn. Trong đó, mật ong hoa nhãn Hưng Yên là nổi tiếng nhất. Với diện tích trồng nhãn lên đến cả ngàn hecta, nghề nuôi ong ở Hưng Yên phát triển hết sức mạnh mẽ. Mật ong hoa nhãn có mùi vị đặc trưng của hoa nhãn, đầu mùa có màu cánh gián, đậm hơn mật ong hoa vải, để lâu ngày dễ bị nổi bọt và có vị chua. 

 

Quy trình lấy mật ong
Quy trình lấy mật ong
 
2. Mật ong hoa dừa: Xứ dừa Bến Tre và một số vùng trồng dừa nhiều ở miền Tây Nam bộ cũng là nơi cho ra loại mật ong hoa dừa. Tổ ong dừa thường nhỏ, bám bên trên các bẹ dừa nên khó phát hiện. Mật ong dừa có vị ngọt thanh, số lượng mật khai thác được hàng năm rất hạn chế, đồng thời quá trình trồng dừa không sử dụng hóa chất, nên mật ong dừa bán rất có giá.
 
3. Mật ong hoa cà phê: Cây cà phê được trồng phổ biến tại các tỉnh Tây nguyên. Thời gian giáp Tết, hoa cà phê nở rộ, các chủ trại ong thường di chuyển đàn ong đến đây để ong lấy mật. Nếu mật hoa nhiều, khoảng 3 -4 ngày mỗi tổ sẽ cho thu hoạch một lần. Mật ong cà phê thường có màu vàng nhạt, không ngọt gắt như các loại hoa khác, độ đặc cao, ít biến đổi màu sắc.
 
4.  Mật ong hoa sú vẹt: Khoảng từ tháng 5 -8, trên các cánh rừng ngập mặn sẽ tràn ngập một màu trắng của hoa sú vẹt. Mật ong khai thác từ hoa sú vẹt có hương vị tổng hòa của phấn hoa, biển cả… và đặc biệt là có một hàm lượng khoáng chất vừa đủ nên rất tốt cho cơ thể.
 
5. Mật ong hoa vải: Đàn ong ở các vùng trồng vải nhiều thì sẽ cho mật ong hoa vải. Vải được trồng ở nhiều nơi, nhưng chất lượng nhất là ở Bắc Giang. Người dân vùng này thường trồng vải kết hợp nuôi ong để tăng thu nhập. Mật ong hoa vải được khai thác vào tháng 7 - 8 hàng năm, có màu vàng nhạt, hơi trong. Lượng mật trong hoa vải nhiều, nên thường thì các chú ong thợ chỉ mất vài ngày để lấy mật ong đầy tổ. Vì vậy người nuôi ong phải thường xuyên vắt tổ ong để lấy mật.
 
6. Mật ong hoa cao su: Mật ong cao su phổ biến tại vùng Đông Nam bộ, Tây nguyên,  được tạo thành từ quá trình con ong hút mật hoa và lá úa vàng của cây cao su. Thời điểm cho mật nhiều nhất là lúc cao su ra hoa hoặc cao su đang rụng lá. Mật ong hoa cao su có màu vàng đậm, dễ bị kết tinh do lượng đường trong mật cao su rất cao. Độ nặng trung bình của mật ong hoa cao su khoảng 1,3kg/lít.
 
7. Mật ong hoa tràm: Tràm phân bổ nhiều tại vùng U Minh, Cà Mau. Vào mùa hoa tràm nở, cả vùng bao phủ một màu trắng xóa. Đó cũng là lúc dân khai thác mật đi vào rừng tìm tổ ong tự nhiên, còn người nuôi ong thì di chuyển đàn ong vào các cánh rừng để ong đi tìm mật. Mật ong hoa tràm có màu vàng nâu, để lâu mật chuyển thành màu đen, trông không bắt mắt. Vị mật ong hoa tràm cũng hơi gắt, không ngon bằng các loại mật ong khác.
 
8. Mật ong hoa bạc hà: Nuôi ong lấy mật hoa bạc hà là cực khổ nhất so với các hình thức nuôi ong khác, do bạc hà là loại cây mọc dại trên vùng cao nguyên đá Hà Giang, nơi có khí hậu khắc nghiệt nhất cả nước. Khi gió mùa đông bắc đem cái lạnh cắt da cắt thịt về cũng là lúc hoa bạc hà bừng nở. Lúc này chủ trại ong, phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số, sẽ di chuyển đàn ong từ vườn nhà đến nơi có nhiều hoa bạc hà để khai thác mật. Mật hoa bạc hà có màu vàng xanh và trong, mùi thơm đặc trưng, không ngọt gắt mà dịu mát, khác biệt rõ so với các loại mật hoa khác. Sản lượng mật ong hoa bạc hà thấp, nên giá thành cao gần gấp đôi những loại mật ong hoa khác.
 
Việt Nam đang đứng thứ tư thế giới và thứ hai châu Á về xuất khẩu mật ong, khoảng 100 triệu USD/năm.
Trên thế giới hiện đang tiêu thụ 700gr mật ong/người/năm, nhưng tại Việt Nam con số này là 30 - 40g, cho thấy thị trường nội địa của mật ong còn rất lớn. Theo TS Phùng Hữu Chính (nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển ong - Viện Chăn nuôi), nếu biết quảng bá thương hiệu và hướng dẫn sử dụng thì ngành mật ong còn cơ hội phát triển rất lớn.
 
 M. PHUONG
 
;
.
.
.
.