Ngành chăn nuôi vịt: Nhiều tiềm năng… nhiều nút thắt - Nông Thôn Việt

Ngành chăn nuôi vịt: Nhiều tiềm năng… nhiều nút thắt

Thứ Sáu, 10/03/2017, 15:24 [GMT+7]

Đứng vị trí thứ 2 trong cơ cấu chăn nuôi gia cầm, có những đặc tính phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn như hiện nay, ngành chăn nuôi vịt được xác định là một trong những vật nuôi không thể thiếu trong chương trình tái cơ cấu ngành…Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chăn nuôi vịt vẫn đang dừng lại ở quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ tiêu thụ nội địa, hầu hết tiềm năng của loại vật nuôi này chưa được phát huy đúng mức.

Chăn vịt. Ảnh: Thảo Nguyên.
Chăn vịt. Ảnh: Thảo Nguyên.

Thị trường tiềm năng

Thời gian gần đây, chăn nuôi vịt trên thế giới có nhiều biến động do tác động trực tiếp của dịch cúm gia cầm. Theo nghiên cứu của Trung tâm Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp nông thôn miền Nam, Trung Quốc hiện là nước có số lượng đầu vịt chăn nuôi nhiều nhất thế giới với hơn 800 triệu con, chiếm gần 70% tổng đàn vịt thế giới. Việt Nam cũng rất “đáng gờm” khi đứng ở vị trí thứ hai, tuy chỉ chiếm trên dưới 7% tỷ trọng đàn gia cầm với khoảng 72 - 75 triệu con vào năm 2016, trong đó ước tính 35% nuôi hướng trứng, 65% nuôi hướng thịt.

Sản phẩm vịt của Việt Nam sản xuất ra chủ yếu để tiêu thụ nội địa, tỷ trọng xuất khẩu chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chỉ khoảng 10% trong tổng sản lượng đàn gia cầm. Điều đáng chú ý là đang có xu hướng tăng bất chấp ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm. Bên cạnh đó, trứng vịt cũng là mặt hàng xuất khẩu đầy tiềm năng, như mặt hàng trứng vịt muối đã xuất hơn 30 triệu trứng mỗi năm, đem về hàng triệu USD/năm, tạo đầu ra ổn định, giúp người nuôi có lãi.

Thương mại quốc tế về thịt vịt có xu hướng phân khúc theo châu lục do khác biệt về giống, khẩu vị và cách quản lý tiêu chuẩn chất lượng. Châu Á là nơi nhập khẩu thịt vịt nhiều nhất thế giới, chiếm hơn 50% sản lượng nhập khẩu thịt vịt của thế giới; trong đó Hồng Kông là nơi nhập khẩu nhiều thịt vịt nhất, chiếm khoảng 70% sản lượng nhập khẩu, kế đến là Nhật Bản với 7,1% sản lượng nhập khẩu của khu vực. Như đã nêu, Trung Quốc là nước sản xuất thịt vịt lớn nhất, cũng là nước xuất khẩu thịt vịt lớn nhất thế giới với thị trường chính là các quốc gia trong khu vực châu Á (Hồng Kông, Ma Cao), các nước châu Âu như: Hungary, Đức, Hà Lan, Pháp... Tuy có nhiều yếu tố về lâu dài sẽ cản trở sự phát triển của ngành này, như thiếu nguồn ngũ cốc, cần diện tích mặt nước lớn khi phải đảm bảo cung cấp lượng nước đáng kể cho sản xuất vịt có chất lượng cao, chưa kể Trung Quốc là cái nôi của hầu hết các chủng mới của bệnh cúm gia cầm, khả năng bùng phát thành đại dịch cao, nhưng có thể thấy, thị trường thịt vịt và trứng vịt có tiềm năng rất lớn, đặc biệt từ các thị trường Châu Á truyền thống như Hồng Kông (Trung Quốc), Nhật Bản và kể cả Trung Quốc. Là quốc gia có lợi thế tự nhiên, giống, nguồn thức ăn cám gạo và bột cá có sẵn, cả về vệ sinh phòng dịch, cách ly sản xuất, Việt Nam cũng được đánh giá là có nhiều lợi thế về sản xuất và xuất khẩu vịt không kém nước láng giềng Trung Quốc. Vấn đề là bằng cách nào và khi nào?

Chuyển đổi phương thức chăn nuôi, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường

Do lợi thế về tự nhiên, tập quán chăn nuôi, nên chăn nuôi vịt ở nước ta phát triển chủ yếu tại hai vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng. Đây là hai vùng có nhiều kênh rạch, sông ngòi, ao hồ, đồng trũng phù hợp với đặc tính sinh học của thủy cầm. Tổng đàn thủy cầm của hai vùng này chiếm hơn 60% tổng đàn thủy cầm của cả nước.

Theo ông Mai Thế Hào (Phó phòng Văn phòng đại diện Cục Chăn nuôi tại Tp.HCM), trước đây chăn nuôi vịt chủ yếu theo phương thức chăn thả tự nhiên. Điều này tạo nên lợi thế về chi phí, giúp chăn nuôi vịt đạt tăng trưởng đều đặn và mức lợi nhuận ổn định, bất chấp những khó khăn về giá thức ăn gia cầm tăng cao trong thời gian gần đây. Phương thức này một mặt giúp người chăn nuôi tiết kiệm chi phí thức ăn và làm giảm các loài côn trùng gây hại trên ruộng lúa. Mặt khác, việc chăn thả vịt cũng tận dụng được nguồn thức ăn (lúa) rơi vãi trên đồng ruộng sau thu hoạch. Đây cũng là giải pháp nhằm chuyển đổi tỷ lệ hao hụt, thất thoát trong trồng lúa thành nguồn thức ăn trong chăn nuôi vịt. Bên cạnh đó, chăn thả tự nhiên cũng giúp tạo nên chất lượng trứng vịt vì lòng đỏ có màu tự nhiên, dẻo, thơm ngon đậm đà. Sản phẩm trứng vịt muối của Việt Nam luôn đứng đầu trong sản phẩm cùng loại của một số nước lân cận, đang nổi lên là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu có nhiều ưu thế cạnh tranh mặc dù mặt hàng này mới chỉ chiếm một phân khúc rất nhỏ, khoảng 30% giá trị con vịt. Hạn chế chính của phương thức chăn thả là khó quản lý dịch bệnh và đảm bảo an ninh sinh học, năng suất thấp. Chăn nuôi vịt chăn thả là một trong những nguyên nhân chính khiến phát sinh và lây lan cúm gia cầm tại Việt Nam. Dịch bệnh diễn ra liên tục (tuy ở mức độ nhỏ lẻ), đã làm cho các phía đối tác dựng thêm các “hàng rào kỹ thuật” khiến việc xuất khẩu bị giảm sút, thậm chí không thể tham gia vào các thị trường cao cấp.

Còn ông Bùi Văn Nhạc, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Grimaud Việt Nam - đơn vị cung cấp vịt giống hướng thịt hàng đầu tại Việt Nam thì cho rằng, hiện nay sản phẩm thịt vịt của Việt Nam chưa xuất khẩu được vì chưa đáp ứng được các điều kiện kỹ thuật như:

Đầu vào của nguồn nguyên liệu chưa ổn định và chưa đáp ứng được tiêu chuẩn để xuất khẩu, cụ thể là chưa truy xuất được nguồn gốc để kiểm soát được dư lượng kháng sinh trước khi giết mổ, mức độ đồng đều và quy mô chưa đáp ứng do chăn nuôi nhỏ lẻ.

Hơn thế nữa, ngành chăn nuôi vịt còn đối diện quá nhiều rào cản. Chỉ riêng vấn đề kiểm soát dịch cúm gia cầm cũng khiến các nhà chăn nuôi đau đầu. Theo Công lệnh của thú y quốc tế mà nhiều nước áp dụng, thì khi nhập gia cầm từ bất kỳ nước nào, điều kiện bắt buộc là trong 12 tháng trước đó nơi xuất phát phải là nơi không có dịch cúm gia cầm. Vì vậy, cứ thấy trong thịt có kháng thể thì họ xem như trước đó có dịch và không cho nhập. Trong khi đó, để đối phó với tình hình dịch cúm gia cầm xảy ra liên tục, Việt Nam lại có quy định khi gia cầm đưa vào giết mổ phải kiểm tra có kháng thể cúm gia cầm, và để có kháng thể thì phải chích vaccine. Do vậy mà sản phẩm thịt gia cầm nói chung và thịt vịt của Việt Nam không thể xuất do không đáp ứng yêu cầu.

Bên cạnh đó, cũng xuất phát từ chăn nuôi nhỏ lẻ nên giá thành sản xuất quá cao, khó cạnh tranh. Để giải quyết được các bài toán trên, giải pháp duy nhất là chúng ta phải tiến hành công nghiệp hóa ngành nông nghiệp chăn nuôi vịt, áp dung mô hình chuồng trại lạnh để ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật của các nước tiên tiến trên thế giới vào ngành chăn nuôi ở điều kiện nước ta.

Kế đến, sau khi giải quyết được vấn đề về nguyên liệu đầu vào thì công nghệ giết mổ cũng là một trong những vấn đề tiên quyết. Chúng ta phải xây dựng được nhiều hơn nữa những cơ sở giết mổ công nghiêp với hệ thống máy móc hiện đại và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng quốc tế như: ISO, HACCP, … để đáp ứng được các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm của các nước nhập khẩu.

Cuối cùng là nhà nước cần có thêm những chính sách để hỗ trợ cho toàn chuỗi chăn nuôi, giết mổ và xuất khẩu vịt thịt. Nếu kết hợp được tất cả các giải pháp một cách đồng bộ, chúng ta có thể hy vọng một ngày không xa, thịt vịt của Việt nam sẽ có mặt ở các thị trường lớn trong khu vực và trên thế giới.

Không quên “sân nhà”

Tại thị trường trong nước, mặc dù người tiêu dùng vẫn đánh giá chất lượng thịt của vịt chạy đồng ngon hơn, nhưng các sản phẩm chăn nuôi tập trung (công nghiệp/bán công nghiệp) vẫn có thị trường ổn định, nhất là tại các thành phố lớn do đảm bảo an toàn thực phẩm. Điều đó gợi ý cho định hướng chuyển đổi chăn nuôi vịt theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp để vừa đảm bảo an ninh sinh học, vừa đáp ứng thị hiếu đang dần thay đổi của người tiêu dùng. Vì thế, cần tính tới các phương thức chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp thích hợp, vừa đảm bảo được quản lý dịch bệnh, vừa tận dụng được lợi thế về chi phí thức ăn, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có.

Trên thực tế, nhiều địa phương đã có những chuyển đổi phương thức mang lại hiệu quả cao, như Đồng Tháp với mô hình nuôi vịt bố mẹ chuyên trứng theo phương thức bán công nghiệp, trong đó quy hoạch vùng nuôi, cách ly, quản lý đồng gần, không để di chuyển tự do như trước đây. Tương tự, Bình Phước, Đồng Nai và nhiều địa phương với mô hình nuôi vịt cạn an toàn sinh học, nuôi vịt biển, vịt trời...cũng đã mang lại hiệu quả. Cùng với các biện pháp về kiểm soát con giống, nguồn thức ăn, môi trường chăn nuôi bên cạnh những giải pháp khoa học về giống phù hợp với môi trường hạn, mặn...là cơ sở để mở rộng và phát triển chăn nuôi vịt bền vững, đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường các nước.

Giá bán vịt được đánh giá tương đối ổn định so với heo và gà. Nguồn: Cục Chăn nuôi.
Giá bán vịt được đánh giá tương đối ổn định so với heo và gà. Nguồn: Cục Chăn nuôi.

Ông Bùi Văn Nhạc - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Grimaud Việt Nam: Khắc phục điểm yếu về nhân giống

Thái Lan với quy mô giết mổ mỗi ngày khoảng 140.000 vịt thịt,  để nhân giống cho toàn bộ nhu cầu này chỉ có 04 đơn vị làm giống, trong khi đó ở Việt Nam với quy mô tương tự nhưng có khoảng 200 – 300 đơn vị, cá nhân làm giống. Hơn nữa, để sản xuất con giống, đòi hỏi rất nhiều tiêu chuẩn khắt khe. Thông thường, các hộ cá nhân và những đơn vị nhỏ lẻ sẽ phát triển giống theo phương thức truyền thống là giữ lại vịt thương phẩm đẹp để làm vịt bố mẹ, nhưng việc làm này không mang tính khoa học do vịt thương phẩm là dòng được lai tạo từ đời bố mẹ. Do đó nếu tiếp tục lấy dòng này làm vịt bố mẹ thì kéo theo đó là tình trạng cận huyết mà hậu quả sẽ rất lớn như khả năng chống chịu dịch bệnh, kháng thể tự nhiên, bên cạnh các vấn đề về thời gian sinh trưởng, tiêu thụ thức ăn... Ngoài ra quy trình, môi trường nuôi giống bố mẹ cũng đòi hỏi rất cao để đảm bảo loại trừ tối đa các yếu tố gây bệnh và truyền nhiễm đến thế hệ con giống thương phẩm. Để đầu tư hệ thống chuồng trại như vậy đòi hỏi kinh phí rất lớn (như giá thành hiện tại hết khoảng 4,5 – 5 tỷ VNĐ/4.000 giống bố mẹ, bao gồm tiền giống, chuồng trại, thức ăn, thú y và kỹ thuật). Những chi phí trên chưa bao gồm chi phí máy móc, nhà máy ấp trứng,…

Với thực trạng làm giống như hiện nay, người chăn nuôi sẽ chịu rủi ro lớn về kiểm soát dịch bệnh, hao tốn thức ăn, thời gian chăn nuôi... Những vấn đề này sẽ tác động vào tình hình chung của ngành chăn nuôi hiện tại, và là những khó khăn cần tháo gỡ nếu chúng ta muốn phát triển.

Ông Dương Xuân Tuyển - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu  và Phát triển chăn nuôi gia cầm Vigova: Việc kiểm soát nguồn giống sẽ tác động đến nhiều vấn đề trong quá trình nuôi, nhất là giảm giá thành sản xuất và hạn chế các rủi ro. Những ưu thế về con giống như khả năng kháng bệnh tự nhiên, thời gian nuôi, mức độ tiêu thụ thức ăn sẽ mang lại hiểu quả rất lớn, nhất là về giá thành, bởi chỉ cần thời gian nuôi chênh lệch 3 – 5 ngày thì cũng tiết kiệm được một lượng lớn thức ăn và những rủi ro khác nếu chăn nuôi ở quy mô lớn”

Phú Khuynh

;
.
.
.