Nhà nông Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào.... ông trời - Nông Thôn Việt

Nhà nông Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào.... ông trời

Thứ Ba, 05/06/2018, 10:17 [GMT+7]

Sáng 5.6 đã diễn ra Diễn đàn chuyên đề Nông nghiệp "Giải pháp phát triển thương mại cho nông sản Việt". Diễn đàn, nằm trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam (Vietnam Economic Forum - ViEF), do Ban Nghiên cứu, phát triển kinh tế tư nhân phối hợp thực hiện cùng Báo điện tử VnExpress,.

Chưa tổ chức được thị trường nội địa

Thời điểm này, người dân bắt đầu thu hoạch vải chín sớm chủ yếu là các giống u hồng, u trứng, u thâm. Toàn huyện có khoảng 20 điểm thu mua vải sớm, tập trung nhiều ở phố Kim, xã Phượng Sơn - Ảnh: NAM TRẦN
Trái vải một loại nông sản nổi tiếng của VN đang vào mùa ờ các tỉnh phía Bắc.

Trao đổi với các nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp hàng đầu, tham dự diễn đàn Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn Phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng nhận định việc lựa chọn chuyên đề Nông nghiệp để mở màn cho chuỗi sự kiện của Diễn đàn Kinh tế Việt Nam là lựa chọn đúng và chính xác trong tình hình hiện nay.

"Có thể nói, thời gian qua với sự đóng góp không nhỏ của các doanh nghiệp, chúng ta đã có từ 3.300 đến 3.700 doanh nghiệp, 33.000 hộ trang trại, hàng ngàn hợp tác xã lớn. Tính 4 tháng đầu năm 2018, kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp tăng 11,9% so với cùng kỳ 2017, trong đó giá trị xuất khẩu nông sản đạt 6,5 tỷ USD, giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 2,4 tỷ USD... Thặng dư ngành nông nghiệp dự kiến vượt 9 tỷ USD trong năm nay", Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nói. 

Theo ông, trong ngành nông nghiệp, nếu chúng ta chỉ sản xuất ra nhưng không chế biến thì cũng không thể tiêu thụ tốt, đặc biệt là với những bất cập trong quản lý vật tư đầu vào, yếu tố thị trường, chưa tổ chức được thị trường trong nước. Điểm yếu tiếp theo của nông nghiệp Việt Nam là về tính liên kết sản phẩm của các làng xã và địa phương. Chúng ta cần nhiều thời gian để xử lý vấn đề này. 

Một vấn đề khác được Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nêu ra là vấn để xử lý nguồn gốc đất. Thực tế, để giải quyết những bất cập trên, Việt Nam phải lấy thị trường làm mục tiêu, tiêu chuẩn thị trường làm thước đo đáp ứng yêu cầu trong và ngoài nước.

Bộ trưởng cho hay, qua buổi thảo luận hôm nay, Hội đồng tư vấn và các bộ sẽ tổng hợp các ý kiến và đề xuất để trình Thủ tướng trong buổi hội nghị tới đây. 

Trong bài tham luận có tiêu đề "Cơ hội thị trường với những vấn đề đặt ra cho nông sản Việt", TS. Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện chính sách và Chiến lược phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho rằng, Diễn đàn chuyên đề Nông nghiệp hôm nay đang bàn đến vấn đề khó nhất của ngành nông nghiệp, trong đó có thay đổi quy mô thị trường trong nước. 

Ông Sơn nhấn mạnh với tốc độ tăng dân số hiện nay, năm 2035 chúng ta có nửa số dân chuyển sang dân số thành thị và còn tăng liên tục. Đi kèm với công nghiệp hóa, thu nhập của người dân về nông sản cũng tăng lên rõ rệt.

Dẫn chứng theo số liệu của World Bank, ông cho biết, đến năm 2030 kết cấu tiêu dùng trong bữa ăn của dân cư sẽ thay đổi nhiều trong đó nhu cầu về rau, thịt sẽ tăng. Kết cấu nền nông nghiệp thay đổi rõ rệt, chăn nuôi và ngành thủy sản tăng lên, trồng trọt kết cấu thay đổi và toàn ngành cũng thay đổi. Đa dạng hóa sẽ đem lại thu nhập cho người nông dân.

Thế mạnh của Việt Nam là nông sản

cv
Sầu riêng loại trái cây đặc sản đất phương Nam của Việt Nam

Thị trường quốc tế, nhu cầu đang thay đổi ghê gớm, nhất là ở các nước đang phát triển. 7 tỷ người sẽ tăng lên 9 tỷ người, thì lúc đó nhu cầu ngũ cốc, sữa, rau quả thịt đều tăng mạnh. Điều này mở ra điều kiện cho Việt Nam. Tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam và Thái Lan có lợi thế nhất.

Việt Nam phải đẩy mạnh hội nhập, tham gia vào các hiệp định thương mại. Các số liệu về cán cân thương mại cho biết, nông sản Việt Nam ngay từ khi hội nhập đã xuất siêu. Năm 2018 dù có thể gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn dương về xuất khẩu. Điều này chứng minh rằng, thế mạnh của Việt Nam là một cường quốc về nông sản.

Theo báo cáo về lộ trình cắt giảm thuế khi tham gia CPTPP của các nước thành viên, các khoản thuế trong nông nghiệp sẽ giảm đáng kể, nhưng còn rất nhiều hàng rào phi thuế quan phải vượt qua. Vì vậy, đây là một thách thức cho nông sản Việt Nam.

Ngoài ra, khi tham gia hội nhập, thị trường Việt Nam cũng sẽ mở rộng để các nước tiến vào, vì vậy các doanh nghiệp phải vượt lên để đương đầu với thách thức.

Việt Nam cũng phải đối mặt với vấn đề thách thức về thể chế, có quá nhiều cơ quan quản lý chung, có quá nhiều quy chuẩn, vì vậy việc truy xuất nguồn gốc nông sản gặp nhiều khó khăn.

Thêm vào đó, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm của các doanh nghiệp Việt còn yếu. Năng lực để chứng minh về chất lượng chưa thể đáp ứng nhu cầu của thị trường. Vì vậy chúng ta cần phải xây dựng các thủ tục minh bạch hơn.

Vấn đề lao động, mối quan hệ giữa tổ chức các nghiệp đoàn nông nghiệp, quan hệ giữa nông dân với doanh nghiệp là những thách thức chính. Ngoài ra chúng ta còn 1,7 triệu trẻ em nông thôn tham gia lực lượng lao động nông nghiệp, hay quản lý di cư cũng là những thách thức mà nước ta đang phải đối mặt.

Còn nhiều rào cản khác là hàm lượng khoa học công nghệ rất ít, năng suất lao động thấp. Một nguy cơ cũng mới xuất hiện trong cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4, Việt Nam là một trong những nước có nguy cơ tụt hậu lớn nhất. 

Sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, khó cạnh tranh

Sau nhiều năm tích luỹ kinh nghiệp làm việc với nông dân Việt Nam Ông Trần Thanh Hải, Phó chủ tịch điều hành Cấp cao Central Group (Thái Lan) cho rằng Việt Nam cần xây dựng và phát triển mô hình đầu tư canh tác quy mô lớn. Hiện nay, sản xuất còn nhỏ lẻ, làm theo quy mô hộ gia đình, diện tích canh tác còn giới hạn, các cánh đồng mẫu lớn chưa phổ biến, chưa tận dụng được chi phí đầu tư thấp, dẫn đến giá thành sản phẩm cao.

Ở các nước phát triển, chi phí đầu tư vào cơ sở vật chất, khấu hao trên từng sản phẩm giảm rất nhiều, nhà đầu tư có nhiều cơ hội đa dạng hoá sản phẩm, phát triển theo hướng chuyên nghiệp hoá. Ở Thái Lan, 500 con gà trở xuống là chăn nuôi nhỏ lẻ theo hộ gia đình, ở Việt Nam 90% như vậy, kém Thái Lan 10 lần.

Để minh chứng sự nhỏ lẻ ở Việt Nam,  ông Hải cho biết thêm hơn 70% hộ có sức nuôi từ 5.000 con gà trở lên. Trong khi đó, ở Việt Nam có 8 triệu điểm chăn nuôi, nhưng quy mô từ 100 đến 1.000 con chỉ chiếm 3%, trên 1.000 con chỉ 0,2%. Quy mô và năng suất hiệu quả các nông trại ở Thái hơn hẳn Việt Nam, các sản phẩm dễ dàng cạnh tranh trên trường quốc tế.

Hiện nay, đa phần nông dân Việt Nam ngại thay đổi, trung thành với canh tác truyền thống, ngại rủi ro, cơ hội hạn chế do quy mô đầu tư nhỏ. Các nhà nông Việt cũng còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, thị trường. Họ không được làm chủ, quy mô nhỏ nên cũng không áp dụng được móc móc tiên tiến để nâng cao năng suất canh tác.

Việt Nam cần quản lý chất lượng thương hiệu. Việt Nam đã có nhiều thành công trong gia tăng doanh mục xuất khẩu ra thế giới, được danh giá cao về khả năng cung ứng, nhưng chất lượng sản phẩm vẫn là một thách thức.

Theo VnExpress

 

 

;
.
.
.