Bài toán sáng quyền lập pháp của đại biểu Quốc hội - Nông Thôn Việt

Bài toán sáng quyền lập pháp của đại biểu Quốc hội

Thứ Sáu, 05/10/2018, 11:28 [GMT+7]

Mới đây Ủy ban thường vụ Quốc hội đã quyết định không trình dự Luật Hành chính công ra Quốc hội. Đây là dự Luật được soạn thảo theo sáng quyền của đại biểu QH Trần Thị Quốc Khánh. Vị đại biểu này đã theo đuổi sáng kiến lập pháp nói trên xuyên cả hai nhiệm kỳ, nhưng đã không thành công.

Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh
Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh

Điều dễ nhận thấy đây là dự luật đụng chạm đến gần như toàn bộ thể chế đang tồn tại. Chính vì vậy, Chính phủ đã tỏ ra hết sức băn khoăn. Và sự băn khoăn của Chính phủ là hoàn toàn chính đáng.

Bởi vì rằng một sáng kiến với những chính sách lập pháp hệ trọng như vậy chắc chắn phải được Đảng cầm quyền thông qua, trước khi văn bản có thể chính thức được soạn thảo. Điều này đã không xảy ra với dự Luật Hành chính công. Mà như vậy thì quy trình lập pháp với sáng kiến bắt đầu từ các vị đại biểu Quốc hội quả thực là rất có vấn đề!

Vấn đề đầu tiên là vấn đề động lực. Như một thiết chế đại diện, Quốc hội ít có động lực làm luật để hạn chế các quyền tự do của người dân. Cho nên, mọi chuyện sẽ không đơn giản chỉ là: Quốc hội là cơ quan lập pháp thì Quốc hội làm luật; Chính phủ là cơ quan hành pháp thì Chính phủ thi hành luật.

Theo động lực tự nhiên của việc vận hành thể chế, cách hiểu hợp lý hơn là: Quốc hội là cơ quan lập pháp, nghĩa là Quốc hội cho Chính phủ quyền áp đặt sự tuân thủ gì thì Chính phủ được áp đặt sự tuân thủ đó.

Đó mới là bản chất của mối quan hệ giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp trong một nhà nước pháp quyền. Mà như vậy, thì Chính phủ mới là cơ quan có động lực để làm luật nhiều hơn chứ không phải Quốc hội. Kêu gọi các vị đại biểu Quốc hội tham gia trình dự luật để tăng cường quản lý là đi ngược với động lực tự nhiên này.

Thế Quốc hội có động lực làm luật không? Có, nhưng không phải động lực làm luật để tăng cường quản lý, mà là để phục vụ tốt hơn cho cử tri. Ví dụ như các bãi biển đã cấp hết cho các công ty xây khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nên người dân không thể tiếp cận bãi biển được.

Nếu cử tri phàn nàn về điều này, thì động lực của Quốc hội là ban hành luật để bảo đảm quyền tiếp cận bãi biển cho người dân. Đạo luật quyền tiếp cận biển được Quốc hội ban hành có thể buộc các công ty phải thiết kế lối đi ra biển cho người dân. Nói như vậy để thấy động lực lập pháp có thể rất khác nhau giữa Chính phủ và Quốc hội.

Vấn đề thứ hai là sự hợp lý của quy trình. Thực ra, các vị đại biểu QH là những chính khách, họ không nhất thiết phải là các nhà soạn thảo văn bản pháp luật. Một quy trình chuẩn để các đại biểu QH chỉ thúc đẩy chính sách, còn soạn thảo văn bản phải được giao cho một cơ quan chuyên môn (chuyên về soạn thảo văn bản pháp luật) là rất cần thiết.

Cơ quan này sẽ dịch chính sách mà đại biểu QH mong muốn thành các quy định của pháp luật. Đây là một công việc rất khó và rất chuyên sâu. Các đại biểu QH không nên trực tiếp điều hành và soạn thảo văn bản, vì rõ ràng họ không có những kỹ năng cần thiết để làm điều này. Tất nhiên, mọi chính sách lập pháp mà các vị đại biểu QH là đảng viên thúc đẩy, thì phải được Đảng chấp thuận, trước khi chúng được soạn thảo thành văn bản pháp luật.

Vấn đề thứ ba là năng lực của bộ máy giúp việc. Trong bộ máy giúp việc của Quốc hội nhất thiết phải có một đơn vị chuyên giúp đỡ các vị đại biểu QH trình dự án luật của đại biểu. Khi đại biểu có một ý tưởng, thì đơn vị này phải làm việc cùng với đại biểu để làm rõ mong muốn của đại biểu là gì.

Từ đó, đơn vị này sẽ cùng với đại biểu hình thành lên chính sách lập pháp. Với chính sách lập pháp đã được xác định rõ, đơn vị này sẽ giúp đại biểu làm tờ trình và triển khai các thủ tục liên quan đến việc phê chuẩn chính sách. Sau khi chính sách được phê chuẩn, thì đơn vị này sẽ tiến hành soạn thảo thành văn bản giúp đại biểu QH.

Rất tiếc, Quốc hội nước ta không có một đơn vị như vậy. Giúp các đại biểu trình dự án luật được giao chung chung cho Văn phòng QH và Viện Nghiên cứu lập pháp. Cả hai cơ quan này quả thực đều không có những năng lực như đã nói ở trên.

Những kinh nghiệm và kiến thức học hỏi được từ nghị viện các nước rất tiếc đã không tích tụ lại được ở đây. Mặc dù, trong Dự án hợp tác với Nhật Bản do tổ chức JICA tài trợ, rất nhiều hoạt động liên quan đến sáng quyền lập pháp của các vị đại biểu đã được triển khai, rất tiếc, sự hiểu biết và những kỹ năng cần thiết đã không lưu giữ được.

Trên đây là những vấn đề cơ bản nhất liên quan đến việc hiện thực hóa sáng quyền lập pháp của các đại biểu QH. Hiểu cho đúng và giải quyết chúng cho đến nơi đến chốn, thì chuyện các đại biểu QH trình thành công các dự luật mới có thể xảy ra.

TS. NGUYỄN SĨ DŨNG

 

 

;
.
.
.