Các giải pháp: Khoảng cách từ đối phó đến thích ứng với biến đổi khí hậu - Nông Thôn Việt

Các giải pháp: Khoảng cách từ đối phó đến thích ứng với biến đổi khí hậu

Thứ Hai, 13/05/2019, 12:47 [GMT+7]

Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Quản lý nước và BĐKH (Đại học Quốc gia TP.HCM), mức độ xâm nhập mặn tại ĐBSCL hết sức nghiêm trọng trong tương lai. để ứng phó với những tác động cần có sự kết hợp những giải pháp cứng (công trình thủy lợi) và giải pháp mềm (chính sách quy hoạch sử dụng đất, lựa chọn mô hình sinh kế phù hợp).

Thay đổi nhận thức

Trong bối cảnh diễn biến biến đổi khí hậu và nước biển dâng ngày càng phức tạp thì sự thay đổi nhận thức của người dân tại ĐBSCL được nhận định là hết sức quan trọng. Hiện nay, hầu như đa phần các phương pháp được người nông dân áp dụng nhằm để đối phó tạm thời với những thay đổi hơn là thích ứng. Ví dụ như khi lượng mưa thay đổi, nông dân sẽ điều chỉnh lịch xuống giống, thu hoạch sớm hay rút ngắn thời gian trồng; gặp hạn hán, họ sẽ lấy nước từ giếng khoan hoặc trữ nước lại trong ruộng; hoặc để giải quyết dịch sâu bệnh, họ sẽ thay đổi thời gian phun, loại và liều lượng thuốc sâu, và thay đổi giống cây trồng. Trong khi các giải pháp mang tính hòa hợp việc canh tác với điều kiện tự nhiên thì có tính dài hạn và chiến lược hơn thì lại ít được chú ý. Ví dụ như tích hợp trồng lúa và nuôi thủy sản để cùng lúc tận dụng các nguồn lợi cộng hưởng như chất thải của cá, tôm sẽ giúp tăng độ phì của đất, tạo thuận lợi cho cây lúa và việc trồng lúa cùng phải hạn chế sử dụng thuốc sâu để không gây hại cho các loài thủy sinh.

Smajgl và cộng sự đã khảo sát ngẫu nhiên 1.265 hộ gia đình ở Trà Vinh, Cần Thơ và An Giang về chiến lược sinh kế trong tương lai gồm: ở lại làng và tiếp tục hoạt động sinh kế hiện tại (không có ý định thích ứng), ở lại và điều chỉnh các hoạt động, di cư và tiếp tục hoạt động sinh kế hiện tại, di cư và thay thế các hoạt động hiện tại. Kết quả, có 65% người được phỏng vấn sẽ không di cư và không thay đổi hoạt động hiện tại ngay cả khi sản lượng giảm 50% (hay nhiều hơn) trong 5 năm. Nguyên nhân của việc không di cư được đưa ra là do họ quý trọng nguồn gốc tổ tiên không muốn di dời (48%). Nghiên cứu cũng xác định những nguyên nhân chính cản trở hành vi thích ứng với cuộc sống hiện tại là vì tập quán sản xuất và không đủ kỹ thuật.

Mô hình nuôi tôm trong ao lót bạt tại thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Mô hình nuôi tôm trong ao lót bạt tại thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Một nghiên cứu khác về xâm nhập mặn do BĐKH tại các huyện Duyên Hải, Trà Cú, Cầu Ngang (tỉnh Trà Vinh) bằng cách đo lường khả năng thích nghi qua chỉ số thích nghi cấp độ nông hộ, chỉ số thích nghi cấp độ cộng đồng và số liệu điều tra từ 1.814 hộ sản xuất lúa, màu và nuôi trồng thủy sản theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Kết quả cho thấy, khả năng thích nghi của nông hộ đối với xâm nhập mặn ở mức trung bình.

Một số tín hiệu sáng sủa

Các giải pháp thích ứng với BĐKH ở vùng ĐBSCL của nông dân được các nhà khoa học ủng hộ là những phương thức canh tác quảng canh hay bán thâm canh. Những hình thức canh tác này giúp hạn chế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học lên đất và giúp quá trình canh tác hòa hợp với hệ sinh thái tự nhiên hơn là áp đặt theo những điều tiết hạ tầng của con người.

Nghiên cứu của Smith và cộng sự cho thấy nông dân ở ĐBSCL cũng dần nhận thức được rằng không nên thâm canh chỉ một loại nông sản vì dễ làm suy thoái hệ sinh thái tự nhiên. Và nông dân cũng ý thức được các giải pháp thân thiện môi trường giúp làm chậm những tác động tiêu cực lên đa dạng sinh học. Ngoài những giải pháp thích ứng áp dụng lên việc canh tác, nông dân còn đa dạng hóa sinh kế bằng cách nuôi thêm gia súc, gia cầm và các sinh kế không liên quan đến nông nghiệp như làm thủ công hoặc làm thuê.

Tại Bến Tre, nhiều hộ nông dân đã có nhận thức sớm về BĐKH, thể hiện qua cách họ đề ra các giải pháp thích ứng như: thay đổi loại hình sản xuất và lịch thời vụ, thay đổi cách thiết kế nhà ở, cải tiến việc thu gom nước uống và tăng sự thương mại về nước, bơm nước ngọt vào các ao tôm, và xây dựng các đập để ngăn sự xâm nhập mặn. Tại huyện Vĩnh Châu (tỉnh Sóc Trăng), một số chiến lược thích ứng đã được áp dụng ở địa phương trong những năm qua như chuyển từ các hoạt động nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản; tuy việc chuyển đổi cơ cấu canh tác (từ nông nghiệp sang thủy sản) gặp một số khó khăn do nhu cầu đầu tư cũng như rủi ro (về lợi nhuận) từ các hoạt động nuôi trồng thủy sản là khá cao.

Theo Viện Nghiên cứu BĐKH – Đại học Cần Thơ, nhiều giải pháp thích ứng với BĐKH đã được nông dân các nơi triển khai, các đánh giá bước đầu cho thấy các giải pháp này hoàn toàn phù hợp với những thay đổi tự nhiên và các biến động thời tiết, giúp cải thiện sinh kế, thu nhập và giảm thiểu rủi ro. Các mô hình canh tác chuyển đổi từ độc canh cây lúa sang các hình thức canh tác bền vững hơn trên nền lúa như mô hình lúa – cá, lúa – tôm, lúa - sen, lúa - màu, lúa – cây ăn trái… đồng thời kết hợp với chế biến nông sản, làm du lịch. Đây là các mô hình chuyển đổi canh tác rất thuận thiên, theo hướng bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái và ứng phó hiệu quả với các biến động khí hậu, rất hợp lý với tinh thần Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH.

Trong những năm gần đây, thông qua tập huấn kỹ thuật, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, phát triển bền vững thì các dự án phi công trình cũng đã cải thiện lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia về BĐKH. Các dự án phân bố rộng phù hợp với yếu tố sinh thái vùng gồm: sinh kế liên quan đến nông lâm ngư nghiệp ven biển gắn với sinh thái rừng ngập mặn; Nuôi trồng thủy sản nước ngọt, canh tác lúa, các nghề tiểu thủ công nghiệp khác gắn với hệ sinh thái nước ngọt.

Theo Tiến sĩ Lê Anh Tuấn (Viện Nghiên cứu BĐKH – Đại học Cần Thơ), Chiến lược phát triển bền vững này trong bối cảnh BĐKH hoàn toàn phù hợp với các tiếp cận để thích nghi với hiểm họa thiên nhiên của thế giới hiện nay là: “Thích nghi và chuyển đổi dần theo thời gian trong bối cảnh có nhiều yếu tố bất định”, đặc biệt là thích ứng dựa vào hệ sinh thái và thích ứng dựa vào các giá trị, cơ chế và kiến thức của cộng đồng trong tiến trình ra quyết định. Việc tiếp cận thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái giúp cộng đồng dân cư chọn lựa các giải pháp thích ứng phù hợp một cách mềm dẻo ứng phó với các tác động tiêu cực của BĐKH, giảm khả năng dễ bị tổn thương và nâng cao khả năng phục hồi trước thiên tai và bất thường thời tiết…”

“Thuận thiên” để bền vững

Theo GS.TS Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Cần Thơ: “Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, ĐBSCL có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức, đòi hỏi phải có những giải pháp toàn diện, lâu dài, cấp bách để phát triển bền vững”. Thực tế một năm qua, một số tỉnh, thành ĐBSCL đã ra nghị quyết chuyên đề và một số Bộ, ngành đã xúc tiến một số chương trình nhằm thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn còn xa so với mục tiêu, quan điểm và giải pháp thực hiện mà Nghị quyết đã đề ra; trong đó có vấn đề thiếu liên kết và kinh phí.

Các nhà khoa học cho rằng: Việc tạo dựng các chính sách thích hợp để có thể thích ứng với sự thay đổi của khí hậu trong tương lai và lồng ghép vào các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có ý nghĩa lớn. Theo đó, đối với sản xuất nông nghiệp, cần phải có những điều chỉnh lịch thời vụ kịp thời, đẩy mạnh nghiên cứu tìm ra các giống cây con mới có thể chịu đựng khô hạn, nhiễm mặn tốt hơn. Trong canh tác nông nghiệp, biện pháp tưới tiết kiệm nước sẽ là một giải pháp giúp nông dân giảm chi phí sản xuất và phù hợp với sự suy kiệt nguồn nước. Các công trình trữ nước, thu gom nước mưa, phục hồi nước ngầm, bảo tồn các vùng đất ngập nước, nạo vét củng cố hệ thống kênh mương nhằm gia tăng hiệu quả sử dụng nước, xây dựng và khai thác các nguồn năng lượng tái tạo nhằm phục vụ sản xuất và sinh hoạt.

Cánh đồng lúa ở An Giang
Cánh đồng lúa ở An Giang

Hiện nay ĐBSCL đang mong chờ Bộ KH-ĐT sớm hoàn thành quy hoạch tích hợp ĐBSCL. Đây được xem là “bộ khung” quan trọng để ĐBSCL thực hiện căn cơ hơn Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Theo ông Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp: Trong năm qua, Đồng Tháp đã chủ động thực hiện đa dạng hóa cây trồng nhằm giảm thiểu rủi ro thị trường, đồng thời xây dựng chuỗi sản xuất nông nghiệp để thích ứng với BĐKH. “Chúng ta cần thống nhất sớm, hiện thực hóa quan điểm của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị Phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu thành kế hoạch hành động cụ thể, phù hợp với đặc trưng và điều kiện của vùng. Đó là, chuyển từ "tư duy sản xuất nông nghiệp" sang "tư duy kinh tế nông nghiệp". Một trong những thành phần vô cùng quan trọng để hiện thực hóa quan điểm đó chính là đội ngũ các chuyên gia và các nhà khoa học từ các viện, trường cùng nối kết với cộng đồng doanh nghiệp để dẫn dắt người nông dân thay đổi” – ông Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp nhấn mạnh.

Lê Quang - Vĩnh Tường

 

 

;
.
.
.
.