Muốn 'số' thì phải làm sao? - Nông Thôn Việt

Muốn 'số' thì phải làm sao?

Thứ Hai, 14/10/2019, 07:48 [GMT+7]

Theo Nghị quyết 53/2019/NQ-CP của Chính phủ về giải pháp khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp hiệu quả, an toàn và bền vững, Việt Nam phấn đấu đứng trong số 15 nước có nền nông nghiệp phát triển nhất thế giới, riêng ngành chế biến nông sản đứng trong số 10 nước hàng đầu thế giới… Để hiện thực hóa những mục tiêu này, nông nghiệp Việt Nam không thể đứng ngoài xu hướng chung mạnh mẽ, nhưng vẫn còn khá mới đối với đại đa số doanh nghiệp nước ta: kinh tế số.

 

 

Có thể tăng thêm gần 7 tỷ USD, nếu…

Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, TS Trần Đình Thiên mới đây vừa công bố một nghiên cứu chung với TS Võ Trí Thành, qua đó cho biết Việt Nam thực sự được thừa nhận có lợi thế so sánh trong không ít ngành truyền thống, ngay cả trong bối cảnh mới. Đó là các ngành nông nghiệp cây trồng và thủy sản, công nghệ thông tin (ICT), du lịch…

Lượng hóa lợi thế so sánh này, TS Trần Đình Thiên viện dẫn nghiên cứu năm 2018 của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) dự báo, nếu thực hiện tốt Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0), nhiều ngành vừa nêu sẽ có giá trị tăng thêm hàng tỷ, thậm chí hàng chục tỷ USD. Trong đó, nông nghiệp truyền thống được dự báo tăng thêm 4,9 tỷ USD, còn nông nghiệp thông minh vào khoảng 1,7 tỷ USD.

Tuy nhiên, hai chuyên gia kinh tế hàng đầu cũng nhận định: quá trình chuyển đổi để tham gia vào nền kinh tế số (chuyển đổi số - được hiểu là việc sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi tổng thể và toàn diện phương thức phát triển, cách sống, cách làm việc nói chung và mô hình kinh doanh đối với doanh nghiệp nói riêng) cũng rất khó khăn và đòi hỏi chi phí đắt đỏ, cả để “thoát cũ” lẫn “xây mới”.

Chia sẻ quan điểm này, ThS Vũ Thị Hồng Nhung (Công ty cổ phần VietRAP đầu tư thương mại) - đại diện cho nhóm doanh nghiệp tư nhân đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, bày tỏ băn khoăn: “Ước tính năm 2020 trên thế giới sẽ có khoảng 50 tỷ thiết bị IoT (Internet vạn vật), cung cấp khối lượng dữ liệu khổng lồ về thời tiết, địa điểm, hình ảnh, âm thanh… Làm thế nào mà các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ đầu tư lĩnh vực nông nghiệp, có thể khai thác được dữ liệu, biến dữ liệu thành tài sản? Đối với nhóm doanh nghiệp này, thách thức lớn nhất không phải là có thu thập được dữ liệu hay không, mà là được quản lý, sử dụng theo cách nào”.

Trên thực tế, không chỉ các doanh nghiệp nông nghiệp, mà mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp cho chuyển đổi số nói chung vẫn thấp. Bộ Công thương cho biết, theo kết quả khảo sát năm 2018, có 16/17 ngành được khảo sát đang có mức độ sẵn sàng “thấp”. Doanh nghiệp tuy háo hức với chuyển đổi số về hạ tầng và hậu cần, nhưng lại ít chuẩn bị về tài chính, chiến lược và sản xuất thông minh. Ở một ngành được coi là “tiên tiến” như công nghiệp chế tác, vẫn có đến 35% số doanh nghiệp được khảo sát chưa có kế hoạch áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) cho quản lý chuỗi cung ứng và 77% doanh nghiệp không chia sẻ dữ liệu về hoạt động nhà máy với khách hàng hoặc nhà cung ứng.

Với nông nghiệp, tỷ lệ này còn thấp hơn. Gần như chưa có tập đoàn tư nhân nào có quy mô lớn, có năng lực thực sự trong lĩnh vực công nghệ. Đặc biệt, theo bà Vũ Thị Hồng Nhung, hoàn toàn chưa có đơn vị nào tập trung ứng dụng công nghệ số trong cả chuỗi giá trị sản xuất - thương mại dịch vụ nông nghiệp. Văn hóa quản trị kinh doanh mang tính gia đình của một nền kinh tế thuần nông, cộng với tư duy “mùa vụ” ngắn hạn cũng là một lực cản khổng lồ khác.

Thoát cũ và xây mới

Vẫn theo bà Hồng Nhung, đối với doanh nghiệp nông nghiệp, dữ liệu có thể ứng dụng để giảm trừ hậu quả thiên tai, khắc phục kỹ thuật trồng trọt để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng, hạn chế tiêu hao nguyên liệu trong chế biến sau thu hoạch… Nhưng, chưa cần “vói” đến những mục tiêu xa xôi đòi hỏi công nghệ tinh vi, điều đầu tiên các doanh nghiệp nông nghiệp có thể làm - kể cả doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ - là điều chỉnh cách thức tương tác với khách hàng cuối cùng để không ngừng thấu hiểu khách hàng, tìm cách đáp ứng nhu cầu, thích nghi với thói quen, hành vi mới của họ. “Các doanh nghiệp nhỏ có thể bắt đầu ngay việc thu thập và khai thác dữ liệu khách hàng cho mình thông qua các chương trình tiêu dùng tích điểm, ưu đãi khách hàng thân thiết” - bà nói.

Sâu xa hơn, chuyên gia nêu trên phân tích, một nền nông nghiệp có trình độ tự động hóa cao đòi hỏi người lao động phải thích ứng nhanh với sự thay đổi của sản xuất, của thị trường. Chính vì thế, lãnh đạo doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp cần có những chính sách đào tạo “nông dân mới” - thực chất là những công nhân kỹ thuật - đủ trình độ ứng dụng công nghệ số trong từng khâu của chuỗi sản xuất và tiến tới kết nối, quản lý đồng bộ tất cả các khâu trong toàn chuỗi bằng công nghệ số. Số lượng nhân lực có thể giảm xuống chỉ còn 1/10 so với khi chưa áp dụng 4.0. Đây là thách thức không nhỏ mà các doanh nghiệp làm nông nghiệp đang có số lượng nhân công thủ công rất lớn phải chuẩn bị tâm thế và phương án chuyển đổi phù hợp.

Bên cạnh đó, mặc dù việc tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia là mong muốn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp, nhất là những doanh nghiệp có khát vọng phát triển, song điều này cũng đồng nghĩa với việc phải giải quyết một bài toán nan giải khác là tuân thủ các cam kết chặt chẽ và dễ kiểm chứng về xuất xứ, chất lượng hàng hóa, dịch vụ và các giá trị khác như trách nhiệm xã hội, trách nhiệm bảo vệ môi trường.

Một khía cạnh khác, có lẽ cũng rất lạ lẫm đối với doanh nghiệp nông nghiệp, là yêu cầu về an toàn và an ninh thông tin. Với nền tảng thông tin, trong đó có thông tin khách hàng dễ dàng được tiếp cận, các doanh nghiệp nông nghiệp (với khả năng tài chính và nguồn nhân lực có hạn) đứng trước nguy cơ lớn về mất an toàn thông tin. Không thể không có những bước chuẩn bị kỹ càng để đối phó với nguy cơ đó.

BẢO VÂN

 

 

;
.
.
.
.