Thị trường cao su cuối năm khó khả quan - Nông Thôn Việt

Thị trường cao su cuối năm khó khả quan

Thứ Ba, 19/11/2019, 08:56 [GMT+7]

Năm 2019, ngành cao su có được kết quả có thể xem là tốt khi kim ngạch xuất khẩu đều tăng cả về lượng và trị giá. Tuy nhiên, những tháng cuối năm, tình hình nhiều khả năng sẽ khó khăn hơn bởi các diễn biến khó lường ẩn chứa sự tiêu cực cho thị trường.

 

Thiếu yếu tố hỗ trợ giá

Bất chấp các dự báo rằng sản lượng cao su thiên nhiên năm 2019 của những quốc gia sản xuất và xuất khẩu chủ chốt mặt hàng này đều đang giảm do tình hình thời tiết và nấm bệnh (Indonesia dự báo giảm 15%, Thái Lan dự báo giảm ít nhất 30%), người ta vẫn cho rằng sự chênh lệch về cung và cầu là không nhiều, bởi diện tích cao su vốn được phát triển ồ ạt từ 2011 (thời kỳ vàng son của giá cao su) và hiện nay đã cho mủ là rất lớn.

Ngoài ra, chương trình cắt giảm xuất khẩu trong vòng 4 tháng của Hội đồng Cao su ba bên quốc tế (ITRC) gồm Thái Lan, Indonesia, Malaysia vừa kết thúc vào tháng 9 mà không có thông tin về việc tiếp tục, đã dẫn đến lo ngại rằng nguồn cung trong thời gian tới sẽ nhiều hơn. Những năm gần đây, ITRC - vốn chiếm 70% tổng lượng cao su thiên nhiên của thế giới - vẫn hay tiến hành các gói cắt giảm xuất khẩu, và thực tế, việc này đã có tác dụng nhất định trong việc hạn chế tình trạng “rơi xuống đáy” của giá cao su.

Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng gay gắt hơn khi hai bên tiếp tục gia tăng áp thuế lên hàng hóa của nhau, mối lo ngại về sự suy yếu của nền kinh tế thế giới gần như phủ bóng lên tất cả. Sẽ khó có ngành hàng nào đủ tự tin để đưa ra các dự báo lạc quan cho sự tăng trưởng trong năm nay. Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) mới đây đã phải hạ mức dự báo về giá dầu thô WTI trong năm 2019 xuống còn trung bình 56,31 USD/thùng so với mức dự báo 57,87 USD đưa ra hồi tháng 8. Giá Brent giao ngay năm 2019 cũng giảm xuống mức trung bình 63,39 USD/thùng từ mức 65,15 USD. Giá dầu suy yếu vẫn thường kéo theo sự sụt giảm của giá cao su bởi trong quá trình lọc hóa dầu, có cho ra sản phẩm cao su tổng hợp.

Ngành sản xuất lốp xe, nơi chiếm khoảng 85% nhu cầu về cao su thiên nhiên có lẽ đang ở trong cảnh phải phấp phỏng nhất. Tăng trưởng của ngành sản xuất lốp xe thế giới những năm qua chủ yếu nhờ vào các thị trường mới nổi như Trung Quốc hay Ấn Độ. Trong khi đó, Trung Quốc chính là nhà nhập khẩu phần lớn lượng cao su tự nhiên của Việt Nam (chiếm 63%). Nếu nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vẫn không thể có được một thỏa thuận với Mỹ nhằm chấm dứt xung đột về thương mại, sự trì trệ sản xuất buộc họ phải giảm nhập nhiều mặt hàng, trong đó có cao su. Khi ấy, ngành cao su Việt Nam sẽ khó lòng duy trì được lượng xuất khẩu như những tháng đầu năm.

Chính phủ Thái Lan hiện đang phải xúc tiến một gói trợ cấp trị giá 26 tỷ Baht (849,4 triệu USD) để hỗ trợ nông dân trồng cao su của nước này nâng cao thu nhập. Theo đó, Chính phủ Thái Lan sẽ đặt giá sàn cho một số sản phẩm cao su, nông dân sẽ được trả chênh lệch giá khi giá thị trường xuống dưới giá sàn. Điều này dự kiến mang lại lợi ích cho khoảng 1,4 triệu nông dân và gần 300 ngàn công nhân khai thác mủ từ tháng 10/2019 - 09/2020. Trong 7 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su của Thái Lan đạt 2,82 triệu tấn, trị giá 122,67 tỷ Baht (tương đương 4,01 tỷ USD), giảm 8,5% về lượng và giảm 12,7% về trị giá so với cùng kì năm 2018. Giá xuất khẩu bình quân ở mức 1.418 USD/tấn, bị giảm 4,7% so với cùng kì năm trước.

Người trồng cao su khó chồng khó

Mặc dù kết quả kinh doanh của ngành cao su Việt Nam trong những tháng đầu năm là không tệ, nhưng nó chẳng có ý nghĩa gì với nông dân cùng những vườn cao su tiểu điền của họ. Bởi đó là lúc mà cây cao su trong mùa nghỉ, đồng nghĩa họ không có sản phẩm để bán. Vụ khai thác mới chỉ tiến hành từ tháng 6 và đó cũng là lúc mà sự bi quan của giới đầu tư trên các sàn giao dịch ngày càng gia tăng theo cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đã kéo giá cao su tuột dần.

Những diễn biến của thị trường cao su thế giới đã tác động đến thị trường cao su trong nước. Nếu như đầu vụ khai thác, giá mủ nước ở mức 280 đồng/độ (mỗi kg mủ thường dao động trong khoảng 26 - 45 độ tùy chất lượng thấp hay cao) thì sau đó rớt dần và hiện chỉ còn khoảng 250 đồng/độ. Nông dân trồng cao su chỉ có được lợi nhuận nếu như giá của mặt hàng này đạt từ mức 300 đồng/độ trở lên. Dưới mức ấy, họ buộc phải chấp nhận lỗ lã hoặc huề vốn bằng cách cắt giảm việc thuê mướn nhân công khai thác hay giảm chi phí cho phân bón. Tuy nhiên, việc cắt giảm chi phí chăm sóc vườn cây lại khiến năng suất và cả chất lượng của mủ cao su bị giảm sút theo, qua đó thu nhập càng có nguy cơ “bèo bọt” hơn.

Anh Đoàn Văn Cầm, một nông dân có 3ha cao su được trồng từ năm 2011 ở xã Long Tân, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước cho biết, vườn cây của anh bắt đầu được khai thác mủ vào năm 2018. Tuy nhiên, vụ thu hoạch đầu tiên của anh cũng chỉ đủ bù cho chi phí mua vật tư khai thác ban đầu, đến vụ khai thác hiện tại thì chỉ vừa đủ trang trải một phần cuộc sống gia đình. “Đó là nhờ vợ chồng tôi tự khai thác chứ không thuê nhân công. Ngoài ra, tôi cũng chỉ bón phân theo kiểu cầm chừng chứ không dám đầu tư mạnh”. - anh Cầm nói.

Thời tiết năm nay cũng đã có những tác động tiêu cực đến các vườn cao su của nông dân. Trước và đầu vụ khai thác, nắng nóng gay gắt đã khiến cho sản lượng mủ của nhiều vườn bị sụt giảm khoảng 15 - 30%. Tiếp đến, tình hình mưa bão đã góp phần kéo giảm thêm cả sản lượng lẫn chất lượng khi mỗi kí lô mủ từ vườn cao su của họ bị sụt giảm từ 1 - 3 độ so với vụ thu hoạch 2018. Ngoài ra, mưa bão còn làm giảm đi số ngày thu hoạch mủ của nông dân. “Có thời điểm các cơn bão và áp thấp nhiệt đới khiến cho cả tuần chúng tôi chẳng thu hoạch được giọt mủ nào”. - ông Nguyễn Văn Khởi, một nông dân có 2ha cao su ở xã Thành Tâm, huyện Chơn Thành, tình Bình Phước thở dài cho biết.

Đối với những nông dân có vườn cao su cho thu hoạch từ 2014 trở lại đây, họ gần như chỉ hớn hở mỗi cuối vụ thu hoạch 2016, khi giá mủ nước vọt lên mức 450 đồng/độ. Các vụ mùa còn lại, có thể nói họ buộc phải xoay xở sao cho huề vốn hoặc lỗ ít nhất. Thời gian từ lúc trồng đến khi cho thu hoạch mủ của cây cao su mất từ 6 - 7 năm. Do đó, dù giá của loại nông sản này đang khá thấp nhưng nhiều nông dân vẫn không cam lòng phá bỏ vườn cây của mình. Họ chấp nhận cầm cự với niềm hy vọng mơ hồ một ngày nào đó cao su sẽ trở về thời kỳ hoàng kim 2009 - 2011, khi giá có lúc đạt trên 900 đồng/độ. Hơn nữa, họ gần như chẳng biết nên chuyển đổi cây trồng gì khi mà nhìn sang các loại nông sản khác, thứ nào cũng đang trong cảnh bết bát về giá hoặc nguy cơ cao chuyện cung vượt cầu.

THANH PHÚC

 

;
.
.
.
.