Huy chương Vàng kinh tế Việt Nam 2019 - Nông Thôn Việt

Huy chương Vàng kinh tế Việt Nam 2019

Thứ Sáu, 24/01/2020, 10:57 [GMT+7]

Thành tích 98 Huy chương Vàng (HCV) của đoàn thể thao Việt Nam tại SEA Games 30 thật ngoạn mục, đặc biệt là hai bộ HCV kỷ lục của hai đội bóng đá nam và nữ Việt Nam đã làm nức lòng người hâm mộ. Với những thành quả kinh tế mà Việt Nam đạt được trong năm 2019, có thể nói kinh tế Việt Nam cũng xứng đáng nhận thêm tấm HCV thứ 99.

 

Việt Nam tăng cường xuất khẩu các mặt hàng chế biến sâu.
Việt Nam tăng cường xuất khẩu các mặt hàng chế biến sâu.

Tăng trưởng của Việt Nam đã đi vào thực chất

7,02% tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được xem là điểm sáng hiếm hoi trên bầu trời kinh tế thế giới vốn đã khá ảm đạm trong gần hai năm qua dưới tác động cộng hưởng của nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt là cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung. Mặc dù Việt Nam giờ đây là nền kinh tế có độ mở rất cao nhưng kết quả tăng trưởng cho thấy những động lực quan trọng nhất vẫn đến từ bên trong nền kinh tế. Nhờ duy trì mức tăng trưởng cao hơn gần 2,5 lần bình quân thế giới, vị thế kinh tế của Việt Nam đã được nâng lên đáng kể, từ 0,18% cách đây 10 năm lên gần 0,3% GDP thế giới năm 2019.

Nhờ tăng trưởng cao đã giúp nâng thu nhập của người dân lên mức gần 3.000USD, đời sống người dân từ thành thị cho đến nông thôn, từ miền núi ra đến hải đảo được cải thiện một bước. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều năm 2019 giảm còn dưới 5%; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân được nâng lên trên 90%.

Với tốc độ tăng thu nhập như hiện nay, dự báo Việt Nam sẽ chuyển sang nhóm nước có thu nhập trung bình cao (từ 3.996 đến 12.375 USD theo giá 2019) trong vòng 5 năm tới và nước có thu nhập cao (từ trên 12.375 USD theo giá 2019) trước năm 2045 – thời điểm đúng 100 năm Quốc khánh.

Tăng trưởng GDP Việt Nam 1985 - 2019
Tăng trưởng GDP Việt Nam 1985 - 2019

Điều quan trọng là mặc dù tăng trưởng cao nhưng môi trường vĩ mô vẫn duy trì sự ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức 2,79% so với bình quân 2018, mặt bằng lãi suất và tỷ giá khá ổn định trong bối cảnh nhiều đồng tiền trên thế giới biến động khá mạnh. Các cân đối lớn của nền kinh tế tiếp tục được củng cố và mở rộng. Bội chi ngân sách đã giảm từ 5% xuống còn dưới 3,5% GDP (thâm hụt cơ bản chỉ còn 2,6% GDP); nợ công giảm từ gần 65% những năm trước đây xuống còn dưới 56% GDP hiện nay. Tổng quy mô ngoại thương đạt trên 516 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt hơn 264 tỷ USD đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế có quy mô xuất khẩu thứ 22 thế giới, cán cân thương mại hàng hóa đạt thặng dư kỷ lục trên 10 tỷ USD.

Hiện Việt Nam có 32 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, 8 mặt hàng trên 5 tỷ USD và 6 mặt hàng trên 10 tỷ USD; cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cũng chuyển dịch theo hướng nâng tỷ trọng các mặt hàng công nghệ, chế biến sâu thay vì xuất khẩu thô khoáng sản và nông sản sơ chế. Thu hút FDI 2019 đạt hơn 38 tỷ USD (tăng 17,2% cùng kỳ), trong đó chủ yếu là công nghiệp chế biến chế tạo (chiếm xấp xỉ 75% tổng vốn đăng ký) do hấp lực của các ngành công nghiệp Việt Nam trên bản đồ các chuỗi giá trị toàn cầu (GVC). Du lịch đạt kỳ tích khi thu hút trên 18 triệu lượt khách quốc tế.

Tăng trưởng của Việt Nam đã đi vào thực chất với động lực tăng trưởng được mở rộng hơn trước, chất lượng tăng trưởng được nâng lên, năng suất lao động được cải thiện rõ, vai trò của công nghệ và sáng tạo được thúc đẩy. Chỉ số đổi mới sáng tạo (GII) của Việt Nam năm 2019 do WIPO công bố tăng 3 bậc so với 2018, lên thứ 42/129 nền kinh tế, dẫn đầu nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp; chỉ số Năng lực cạnh tranh quốc gia (GCI) theo WEF tăng 10 bậc lên thứ 67/141 nền kinh tế. Điều đáng chú ý là, đóng góp vào tăng trưởng nay đã mở rộng hơn trước, không còn tập trung vào một số tỉnh/thành phố lớn mà đã có sự hiện diện của một số địa phương mới nổi. Các tỉnh/thành công nghiệp phát triển vẫn tiếp tục duy trì vai trò quan trọng, song một số tỉnh mới nổi gần đây, nhờ thu hút được các dự án quan trọng, đã đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng chung của cả nước.

Vai trò “động lực phát triển kinh tế quan trọng” của thành phần kinh tế tư nhân ngày càng được khẳng định và phát huy theo tinh thần của NQ10 của Bộ Chính trị. Năm 2019 đã có hơn 130.000 doanh nghiệp được thành lập mới, giúp tạo ra hơn 1,6 triệu việc làm mới cho nền kinh tế. Các mục tiêu phát triển xã hội và môi trường cũng được quan tâm cùng với mục tiêu phát triển kinh tế. Quan điểm phát triển hài hòa trên ba trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường được thể hiện trong các nghị quyết của Chính phủ và các nghị quyết của các địa phương.

Thành quả kinh tế của Việt Nam được đánh giá một cách khách quan qua các báo cáo của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và nhiều tổ chức quốc tế khác. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như S&P hay Fitch đều đã nâng hạng tín nhiệm Việt Nam sau nhiều năm. Theo nhận định của Fitch, Việt Nam tiếp tục là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất so với các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như so với nhóm các nước đồng hạng, là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài do lợi thế chi phí thấp.

Biến động tỷ giá một số đồng tiền so với USD (2018 = năm cơ sở)
Biến động tỷ giá một số đồng tiền so với USD (2018 = năm cơ sở)

Năm 2020 có ý nghĩa thế nào đối với Việt Nam?

2020 là năm cuối của kế hoạch 2016 - 2020. Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2020 là khá sáng, tăng trưởng mục tiêu Quốc hội đề ra 6,8% nhưng Việt Nam hoàn toàn có thể tiếp tục đạt trên 7%; môi trường vĩ mô ổn định, thuận lợi cho khởi nghiệp; các cân đối vĩ mô, bên trong và bên ngoài tiếp tục được cải thiện; không gian tài khóa và tiền tệ được củng cố mạnh mẽ. Năm 2020 sẽ không ai nhắc đến một nước Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại nữa, thay vào đó là khát vọng hùng cường 2045 mà năm 2020 sẽ là năm đặt nền móng quan trọng. Năm 2020 cũng là năm có nhiều sự kiện kinh tế chính trị quan trọng của Việt Nam cả về đối nội lẫn đối ngoại. Việt Nam là thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Chủ tịch ASEAN; trong nước sẽ là kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng, 75 năm Quốc khánh, 45 năm thống nhất đất nước…

Mặc dù còn nhiều thách thức song năm 2020 chúng ta có nhiều thời cơ rất thuận lợi. Môi trường chính trị, xã hội và kinh tế vĩ mô của Việt Nam được giữ vững trong một thế giới đầy bất ổn và bất định; tăng trưởng kinh tế đã bước vào giai đoạn phục hồi vững chắc hơn kể từ giai đoạn suy giảm tăng trưởng 2009; Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng nhờ đó sẽ góp phần định hướng và thúc đẩy tháo gỡ các nút thắt thể chế trong thời gian tới; nhiều cải cách đang được Chính phủ tiến hành; làn gió mới đến từ các hiệp định FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, EVIPA… Công cuộc đấu tranh chống tham nhũng giành được sự ủng hộ của người dân; niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp được củng cố với khí thế mới.

Để hiện thực hóa khát vọng có một Việt Nam hùng cường vào năm 2045 không có nghĩa chỉ đơn thuần làm cho kinh tế tăng trưởng nhanh là đủ mà còn phải hành động bằng tất cả lòng tự hào - tự tôn dân tộc của chúng ta. Để làm được điều đó, trước hết cần xóa bỏ những suy nghĩ mang tính mặc cảm, tự ti, cảm giác bị coi thường về nòi giống dân tộc. Cần nhận thấy rằng trong nguy có cơ, biến nguy thành cơ, biến bất lợi thành lợi thế, không ngừng nuôi dưỡng và chắp cánh cho những ước mơ và khát vọng dân tộc. Như nhà cách mạng Nguyễn Thái Học từng nói: “Đường đi khó không phải vì ngăn sông cách núi. Mà khó vì lòng người ngại núi e sông”.

Thách thức lớn nhất của chúng ta hiện nay không phải là thoát bẫy thu nhập trung bình, nguy cơ lớn nhất của chúng ta không phải là tụt hậu kinh tế, mà “thách thức lớn nhất của chúng ta chính là vượt qua sự sợ hãi và nguy cơ lớn nhất là không hành động” như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu trên nghị trường Quốc hội mới đây.

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN - Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright

;
.
.
.
.