Thời cơ vàng cho nông sản Việt Nam - Nông Thôn Việt

Thời cơ vàng cho nông sản Việt Nam

Thứ Sáu, 10/07/2020, 09:14 [GMT+7]

Đầu tháng 6 vừa qua, với đa số phiếu tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), mở rộng cánh cửa vào thị trường tiềm năng gồm 27 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu. Vậy EVFTA sẽ có tác động thế nào đến ngành nông nghiệp Việt Nam và ngành nông nghiệp sẽ làm gì để tận dụng cơ hội mà EVFTA mang lại?

 

Tạp chí Nông thôn Việt đã có cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường để tìm câu trả lời cho những vấn đề này.

 

Trong các nội dung chính của EVFTA vừa được Quốc hội thông qua, Bộ trưởng đặc biệt quan tâm đến nội dung nào?

Việc Quốc hội Việt Nam phê chuẩn EVFTA vào thời gian này là phù hợp và đúng thời điểm, tạo đà cho việc phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19.

Nông nghiệp là lĩnh vực quan trọng, quyết định sự thành công trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững của Việt Nam, được dự báo là một trong những ngành được hưởng lợi lớn từ Hiệp định EVFTA. Trong các nội dung của EVFTA, tôi đặc biệt quan tâm đến nội dung miễn, giảm thuế cho hàng nông lâm thủy sản, và các quy định về nguồn gốc xuất xứ và chỉ dẫn địa lý:

- Về miễn, giảm thuế: Dự kiến sau khi có hiệu lực, EVFTA sẽ giúp 99% dòng thuế nhập khẩu giữa hai bên được xóa bỏ trong vòng 5 - 7 năm; đây là mức cam kết cao nhất mà Việt Nam đạt được trong các FTA đã ký. Đặc biệt, việc miễn giảm thuế bao gồm cả hàng đã qua chế biến như cà phê, hạt tiêu, rau quả, thủy sản. (1)

- Các quy định về chất lượng và nguồn gốc xuất xứ: EU là thị trường khó tính, yêu cầu cao về chất lượng, đòi hỏi sự minh bạch về nguồn gốc xuất xứ và chỉ dẫn địa lý, cửa đã mở nhưng để có thể tiếp cận, hàng nông sản của ta còn cần phải vượt qua nhiều rào cản như hàng rào kỹ thuật của EU. Bên cạnh đó, Hiệp định thương mại EVFTA quy định các yêu cầu nghiêm ngặt về nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm, như vậy 1 sản phẩm phải “có xuất xứ thuần túy hoặc phải đáp ứng được các yêu cầu hàm lượng giá trị nội địa không dưới 40% mới có thể được hưởng ưu đãi thuế từ Hiệp định EVFTA”. Ví dụ, một số sản phẩm của Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu để chế biến và tái xuất cần quan tâm tới vấn đề này như: hạt điều, đồ gỗ, một số sản phẩm thủy hải sản...

- Chỉ dẫn địa lý: Trong khuôn khổ EVFTA, EU có cơ chế bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam như vải Thanh Hà, vải Lục Ngạn, chè Tân Cương, nho Ninh Thuận, xoài Hòa Lộc, quýt Bắc Kạn, gạo Hải Hậu… Đây là điều kiện để một số chủng loại nông sản nổi bật của Việt Nam tiếp cận và khẳng định thương hiệu của mình tại thị trường EU và trên thị trường thế giới.

EVFTA thực sự là cơ hội vàng, sẽ tạo ra cú hích lớn cho xuất khẩu nông lâm thủy sản (NLTS), đặc biệt là các sản phẩm NLTS có thế mạnh và lợi thế cạnh tranh của Việt Nam sang EU?

EU là thị trường nhập khẩu quan trọng của ngành nông nghiệp Việt Nam (đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Hoa Kỳ). Kim ngạch xuất khẩu NLTS sang EU ổn định ở mức trung bình xấp xỉ 5 tỷ USD/năm với mức thặng dư trung bình 4 tỷ USD/năm trong vòng 3 năm qua (2017 - 2019). (2)

Với dân số trên 500 triệu người, Hiệp định EVFTA thực sự sẽ là cơ hội vàng, tạo ra cú hích lớn cho xuất khẩu NLTS, đặc biệt với các sản phẩm có thế mạnh, có lợi thế cạnh tranh và mang tính bổ trợ thay vì cạnh tranh của Việt Nam tại thị trường EU như thủy sản, rau quả, điều, cà phê, hồ tiêu, các sản phẩm đồ gỗ.

Một cơ hội lớn khác đó là, tăng cường hoạt động đầu tư từ EU vào Việt Nam đi kèm với khoa học - công nghệ và nâng cao trình độ kỹ năng lao động. Điều này sẽ giúp tăng sản lượng, chất lượng NLTS để đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường châu Âu và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu . (3)

Tuy nhiên, EVFTA là một Hiệp định thế hệ mới, có mức độ cam kết cao, tầm ảnh hưởng rộng, hứa hẹn mang lại nhiều cơ hội mới nhưng cũng không ít thách thức to lớn cho nền kinh tế cả nước nói chung và khu vực nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Vì vậy nông dân và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh NLTS phải chủ động nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, tìm kiếm thị trường, xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam.

Xin Bộ trưởng cho biết Việt Nam, đặc biệt là ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đã, đang và sẽ làm những gì để nắm bắt tốt cơ hội vàng này?

Những lợi thế mà Hiệp định EVFTA mang lại cho ngành Nông nghiệp Việt Nam là rất lớn, nhưng EU vốn là thị trường khó tính. Bên cạnh những thời cơ, sẽ luôn là những thách thức. Các nước EU sẽ chuyển sang hàng rào kỹ thuật như vấn đề hóa chất, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Để nắm bắt cơ hội mà EVFTA mang lại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra một số giải pháp khi thực thi EVFTA như sau:

- Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Cần xây dựng được các chuỗi giá trị trên cả 3 trục sản phẩm chủ lực quốc gia, chủ lực cấp tỉnh và sản phẩm OCOP, đáp ứng nhu cầu của thị trường EU.

- Nhanh chóng triển khai xây dựng mã số vùng trồng, chỉ dẫn địa lý, đảm bảo truy xuất nguồn gốc, chất lượng và ATTP theo đúng quy định của EU.

- Tập trung dỡ bỏ thẻ vàng IUU đối với sản phẩm thủy sản của Việt Nam

- Tuyên truyền cho người sản xuất, doanh nghiệp về các quy định, tiêu chuẩn chất lượng, xuất xứ hàng xuất khẩu sang thị trường EU. Thu hút và thúc đẩy doanh nghiệp xuất khẩu tăng cường đầu tư chế biến sâu để gia tăng hàm lượng giá trị nội địa, nắm rõ các quy định của EVFTA để vận dụng đúng và hưởng lợi các ưu đãi từ Hiệp định. Bộ sẽ phối hợp với Bộ Công thương để sớm ban hành thông tư quy định về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào EU, quy định rõ các quy trình, thủ tục để các doanh nghiệp có thể tận dụng ngay các cam kết ưu đãi của Hiệp định EVFTA.

- Nâng cao năng lực của các tổ chức nông dân, qua đó tăng cường năng lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn trên thị trường nội địa đối với các mặt hàng như thịt, sữa ; hỗ trợ sinh kế cho hộ sản xuất nhỏ.

- Xây dựng chiến lược phát triển thị trường NLTS vào EU, cũng như chiến lược thu hút FDI từ EU vào nông nghiệp Việt Nam để gắn nông nghiệp Việt Nam với chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu, tận dụng tốt nhất lợi thế của các hai bên trong quan hệ thương mại và đầu tư.

Xin cám ơn Bộ trưởng.

(1) Nhiều mặt hàng của Việt Nam sẽ được giảm thuế về 0% như: mật ong, các sản phẩm từ hạt và phần lớn sản phẩm rau quả. Đối với thủy sản, 50% dòng thuế sẽ được xóa bỏ, 50% dòng thuế còn lại có lộ trình xóa bỏ thuế trong 5 - 7 năm, riêng cá da trơn mức thuế giảm từ 6.8% hiện nay về 0% vào năm thứ 3. Nhiều mặt hàng nông sản có tiềm năng xuất khẩu vào EU cũng đạt được một lượng hạn ngạch đáng kể với thuế suất 0% như gạo xay xát, gạo chưa xay xát, gạo thơm (80.000 tấn), đường và các sản phẩm chứa đường trên 80%, tinh bột sắn, ngô ngọt, tỏi nấm. Sản phẩm gỗ 87,55% dòng thuế về 0% khi HĐ có hiệu lực, số còn lại có lộ trình cắt giảm 3-5 năm.

(2) Năm 2017 KNXK NLTS đạt 4,9 tỷ USD, thặng dư 4,4 tỷ USD; năm 2018 KNXK NLTS đạt 4,88 tỷ USD, thặng dư 4 tỷ USD; năm 2019 KNXK NLTS đạt 4,55 tỷ USD, thặng dư 3,69 tỷ USD.

(3) Các mặt hàng đều có dư địa thuế tương đối cao nhưng thịt gà và thịt lợn có lộ trình dài (8-10 năm) trong khi thịt bò, sữa và các sản phẩm từ sữa có lộ trình giảm nhanh (0-3 năm).

 

 

CÁC MỐC CHÍNH CỦA EVFTA

* Tháng 10/2010, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch EU đã đồng ý khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA.

* Tháng 6/2012, Việt Nam và Liên minh châu Âu chính thức tuyên bố khởi động đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU.

* Sau 14 phiên đàm phán, tháng 12/2015, hai bên đã khởi động tiến trình rà soát pháp lý để chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định.

* Tháng 6/2018, EVFTA được tách làm hai Hiệp định gồm Hiệp định Thương mại tự do EVFTA và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư EVIPA.

* Tháng 10/2018, Ủy ban châu Âu đã chính thức thông qua cả hai Hiệp định này.

* Ngày 30/6/2019, hai Hiệp định đã được ký kết tại thủ đô Hà Nội.

* Ngày 21/01/2020, Ủy ban Thương mại quốc tế của Nghị viện châu Âu đã bỏ phiếu thông qua khuyến nghị phê chuẩn Hiệp định EVFTA và Hiệp định IPA giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu.

* Ngày 12/02/2020, Nghị viện châu Âu phê chuẩn hai Hiệp định EVFTA và EVIPA.

* Ngày 8/6, Quốc hội Việt Nam thông qua Hiệp định EVFTA

 

 

MAI TRÂM thực hiện

;
.
.
.
.