Áp lực tăng vốn ngân hàng Việt mùa dịch Covid-19 - Nông Thôn Việt

Áp lực tăng vốn ngân hàng Việt mùa dịch Covid-19

Thứ Hai, 07/09/2020, 14:18 [GMT+7]

Trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay, rủi ro từ các hoạt động doanh nghiệp tăng cao cũng tiềm ẩn khả năng nợ xấu tăng, làm suy giảm quy mô vốn của ngân hàng. Vì vậy, tăng vốn không chỉ giúp ngân hàng có khả năng chống chọi tốt hơn trước tình hình suy giảm các hoạt động của doanh nghiệp mà còn giúp ngân hàng tăng khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế sau khi dịch bệnh kết thúc. nếu bài toán về tăng vốn cho các ngân hàng không được giải quyết hiệu quả sẽ có thể dẫn đến suy thoái kép cho nền kinh tế.

 

Những chuyển động tăng vốn

Hiện tại mới có khoảng hơn một nửa trong tổng số các ngân hàng thương mại (NHTM) được công nhận đạt chuẩn Basel II về tỷ lệ an toàn vốn (CAR). Vì vậy, tăng vốn vẫn là vấn đề “nóng” đối với nhiều ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 có những tác động tiêu cực đến hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD).

Theo báo cáo của Công ty chứng khoán SSI, quý I/2020, toàn hệ thống ngân hàng chỉ phát hành được khoảng 800 tỷ đồng trái phiếu. Trong khi năm 2019, chỉ riêng các NHTM đã phát hành 115.422 tỷ đồng trái phiếu. Vì vậy, biện pháp khả thi nhất trong bối cảnh hiện tại là cân nhắc tăng vốn cấp 1 bằng việc tạm dừng thực hiện chi trả cổ tức bằng tiền mặt và tăng phát hành cổ phiếu mới cho các nhà đầu tư trên thị trường.

Nhiều NHTM mới đây được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chấp thuận tăng vốn điều lệ. Ngân hàng ACB dự kiến tăng vốn điều lệ từ 16.627 tỷ đồng lên 21.615 tỷ đồng thông qua phương án trả cổ tức bằng cổ phiếu từ lợi nhuận với tỷ lệ 30%. Ngân hàng Bắc Á dự kiến tăng từ 6.500 tỷ đồng lên 7.085 tỷ đồng. Trước đó vào tháng 6, SeABank cũng được chấp thuận tăng vốn điều lệ từ 9.369 tỷ đồng lên 12.088 tỷ đồng theo phương án đã được duyệt tại đại hội cổ đông năm ngoái.

Bên cạnh việc được chấp thuận phương án tăng vốn, nhiều ngân hàng cũng công bố thương vụ tăng vốn thành công từ đầu năm đến nay. Điển hình như SHB, ngân hàng này tăng vốn điều lệ lên mức 17.558 tỷ đồng thông qua việc phát hành hơn 550 triệu cổ phiếu, bao gồm hình thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu và phát hành cổ phiếu ra công chúng. Trong năm nay, SHB dự kiến “đẩy” vốn lên đến con số 19.314 tỷ đồng. Ngân hàng OCB cũng đã hoàn tất thương vụ tăng vốn từ việc phát hành riêng lẻ cho đối tác Nhật là Ngân hàng Aozora, đưa mức vốn điều lệ hiện hữu tăng từ 7.898 tỷ đồng lên 8.767 tỷ đồng. Chưa dừng lại, Ngân hàng này còn dự kiến tăng vốn điều lệ lên tới 11.275 tỷ đồng. Đáng chú ý là cả những ngân hàng nhỏ cũng có các chuyển động tăng vốn mới. Chẳng hạn như Ngân hàng Việt Á mới đây công bố hoàn tất đợt chào bán gần 93,4 triệu cổ phiếu ra công chúng, thu về gần 974 tỷ đồng để tăng vốn, nâng mức vốn điều lệ lên 4.473 tỷ đồng.

Theo báo cáo của Công ty chứng khoán SSI, trong năm 2019, có 5 ngân hàng niêm yết đã tăng vốn điều lệ thành công. Hai thương vụ đáng chú ý nhất là Vietcombank huy động từ GIC (Singapore) và Mizuho (Nhật Bản) để tăng vốn thêm xấp xỉ 265 triệu USD (tương ứng vốn tăng 3,1%), hay thương vụ BIDV phát hành 15% cổ phần cho Keb Hana Bank với giá trị 876 triệu USD. Sang năm nay, các ngân hàng tiếp tục đưa ra kế hoạch tăng vốn “khủng” và đồng loạt. Chẳng hạn như HDBank với kế hoạch tăng vốn gần gấp đôi, từ mức 9.810 tỷ đồng lên hơn 16.088 tỷ đồng, thông qua phương án phát hành cổ phiếu để chi trả cổ tức và phát hành cổ phiếu thưởng từ nguồn thặng dư vốn cổ phần với tỷ lệ lên đến 65%. Tương tự, Ngân hàng VIB cũng dự kiến phát hành cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 20%, tăng vốn điều lệ từ mức 9.245 tỷ đồng lên 11.094 tỷ đồng.

Thật ra, việc tăng vốn hàng năm đều có kế hoạch, nhưng đa phần bị hoãn lại với lý do là tình hình thị trường không thuận lợi. Tuy nhiên, khi hạn cuối thực hiện các tiêu chí an toàn mới theo chuẩn quốc tế Basel II cận kề, thì áp lực tăng vốn của các ngân hàng ngày càng mạnh hơn. Bên cạnh đó, dịch bệnh Covid-19 khiến nợ xấu tăng lên, từ đó ảnh hưởng đến vốn chủ sở hữu ngân hàng (do phải trích lập dự phòng) giảm mạnh. Lo ngại không đạt các tiêu chí an toàn trong Thông tư số 41 cũng khiến nhiều ngân hàng rất nỗ lực trong việc tăng vốn. Do đó, vấn đề tăng vốn giúp “vùng đệm” an toàn của ngân hàng được mở rộng, bên cạnh việc tăng khả năng cho vay, sẽ giúp ngân hàng tăng khả năng ứng phó với các khoản nợ xấu đang bị “đe dọa” tăng lên vì Covid-19, nên được nhiều ngân hàng tập trung đưa vào mục tiêu cụ thể trong năm nay.

Áp lực không nhỏ

Trên thực tế, khi dịch bệnh Covid-19 bắt đầu diễn biến phức tạp từ đầu quý I, NHNN đã yêu cầu các ngân hàng không trả cổ tức bằng tiền mặt trong giai đoạn này, sử dụng khoản lợi nhuận giữ lại để đảm bảo thanh khoản và an toàn vốn. Các NHTM đã lấy phần lợi nhuận này để tranh thủ tăng vốn, điều mà các TCTD không dễ dàng thực hiện trong nhiều năm qua vì áp lực “đòi” cổ tức của cổ đông.

Tuy nhiên, tăng vốn trong thời kỳ dịch bệnh là hoàn toàn không dễ dàng, bởi sự lo ngại của giới đầu tư về sự bất ổn trên thị trường tài chính toàn cầu, đặc biệt là những khoản đầu tư vào ngân hàng là dài hạn. Báo cáo trước đó của nhiều định chế tài chính đều tin rằng, chi phí vốn của các ngân hàng sẽ tăng lên trong bối cảnh tỷ suất lợi nhuận giảm đi. Do đó, việc giữ lại lợi nhuận được xem là phương án tốt để giúp các ngân hàng nội địa tăng vốn, tăng nội lực trong giai đoạn này, dù còn đó những nghi ngại về “độ ảo” của lợi nhuận báo cáo khi nhiều khoản lãi chỉ là “dự thu”.

Trong bối cảnh năm 2021 và xa hơn, khả năng dẫn tới khủng hoảng tài chính tại Việt Nam sẽ phụ thuộc vào mức độ “khỏe mạnh” của hệ thống ngân hàng. Nếu ngân hàng “khỏe mạnh” thì nền kinh tế vẫn đứng vững. Khi đại dịch được kiểm soát, dòng vốn vẫn luân chuyển thì nền kinh tế sẽ hồi phục được.

Trong một diễn biến có liên quan, NHNN mới đây đề xuất giãn lộ trình áp dụng tỷ lệ “tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn” trong 6 tháng hoặc 1 năm. Theo NHNN thì việc giảm tỷ lệ này, từ mức 40% về 37% vào thời điểm đầu tháng 10 tới đây có thể dẫn đến phương án cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng gặp khó khăn, do dự kiến lượng tiền gửi sẽ còn giảm do tác động của Covid-19. Việc lùi thời hạn thực hiện một trong số các tiêu chí an toàn của Basel II rõ ràng cho thấy, áp lực “chìm” của Covid-19 đến hệ thống ngân hàng còn lớn hơn “bề nổi” bên ngoài khá nhiều.

TRẦN TRỌNG TRIẾT

;
.
.
.
.