Phát triển bền vững nông nghiệp, nông dân, nông thôn: Cần có cách tiếp cận khác - Nông Thôn Việt

Phát triển bền vững nông nghiệp, nông dân, nông thôn: Cần có cách tiếp cận khác

Thứ Hai, 12/10/2020, 08:32 [GMT+7]

Tại lễ khai mạc hội nghị Đối thoại với nông dân lần 3 được tổ chức tại Đắk Lắk vào ngày 28/09/2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: “Hiện nay lực lượng lao động của chúng ta rất dồi dào, có tới 65% nông dân sinh sống ở nông thôn. Vì thế trong vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực, chúng ta cần phát huy tiềm lực này”.

 

Trên thực tế, dù cả thế giới đang lao đao vì dịch bệnh thì tại Việt Nam vẫn tăng trưởng, nông nghiệp, nông thôn vẫn đang là trụ đỡ của nền kinh tế đất nước. Để phát huy thế mạnh của nông nghiệp - nông dân - nông thôn, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường đã dành riêng cho Tạp chí Nông thôn Việt một cuộc trao đổi cởi mở.

 

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường.
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường.

Thưa Bộ trưởng, mặc dù chúng ta luôn đánh giá cao vai trò của nông dân nhưng phải nói thật là nông dân vẫn đang là đối tượng kém lợi thế. Bao năm nay, điều kiện sống của nông dân ở nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng biên giới thua kém rất xa so với đô thị. Sản xuất nông nghiệp thì luôn chịu rủi ro bởi thiên tai dịch bệnh, rồi tình trạng được mùa mất giá, được giá mất mùa. Tất cả những rủi ro này đều không có sự bảo hiểm nào khác ngoài thỉnh thoảng có sự trợ cấp của Nhà nước hoặc các cuộc “giải cứu”. Theo Bộ trưởng, giải pháp nào có thể giải quyết bài toán này?

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn - ba chủ thể này, theo tôi, cần phải có cách tiếp cận lại. Trước đây thì ta chỉ nhìn nhận đây là những đối tượng “kém lợi thế”, là “đối tượng an sinh”, và là “trách nhiệm xã hội”. Bây giờ hoàn toàn không phải như thế. Phải thay đổi nhận thức thì mới khai thác được tốt lĩnh vực này.

Phải khẳng định nông nghiệp nông dân nông thôn là một khu vực đầy tiềm năng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Ngay cả đối với các cơ quan truyền thông, đây cũng là một “sân chơi” vô tận, nếu nhận thức đúng vai trò vị trí của khu vực này.

Đến giờ phút này, Việt Nam có 100 triệu dân nhưng con số thống kê cho thấy hơn 60% là cư dân nông thôn. Trong gần 40% còn lại, một phần vẫn thuộc về nông thôn. Bởi vậy, ngay cả các thành phố lớn vẫn có nông thôn, vẫn phải xây dựng Nông thôn mới. Phải nhận thức được rằng, lực lượng lao động sản xuất ở nông thôn Việt Nam còn rất lớn, và đây là đối tượng chúng ta cần tác động, thúc đẩy.

Một trong những “sai lầm thời đại” là coi trọng thái quá đô thị hóa. Năm 1800, cả thế giới mới có một tỉ người, sau hai trăm năm, đã nhảy vọt lên tám tỉ. Đô thị hóa đến 50% bình quân dân số thế giới mà chủ yếu lại rơi vào những nước đang phát triển. Hệ lụy là tất cả những yếu tố vốn phân bổ rất hợp lý đã bị đảo lộn. Một số quốc gia vì bất cập đó đã phải tính đến phương án di dời thủ đô. Đô thị hóa là đúng nhưng cần phải có bước đi như thế nào, ở đâu, quy mô ra sao. Những nước đang phát triển trong nhiều năm qua đã vấp phải sai lầm là đô thị hóa “vô lối”, dẫn đến cảnh có những địa phương đã để trống vắng toàn bộ một vùng nông thôn...

Tôi biết có quốc gia thuộc khối Đông Âu, vài chục năm trước đã từng xuất khẩu hàng triệu tấn lúa mì mỗi năm. Cách đây vài năm, tôi qua, thấy... đói vì thiếu lương thực. Nguyên nhân là khi châu Âu “mở cửa”, lao động nông thôn đua nhau bỏ quê đăng kí đi làm thuê. Khi khủng hoảng, “ai về nhà đó” thì không còn gì để về. Nền kinh tế hội nhập sẽ xóa nhòa ranh giới kinh tế giữa các quốc gia.

Sự xuất hiện của các tập đoàn kinh tế lớn với nguồn lực tài chính, nền tảng quản trị và công nghệ thời đại 4.0, quy mô đầu tư xuyên suốt toàn cầu đã cho ra các sản phẩm không còn khái niệm của nước nào hiện đại hơn nước nào; và Việt Nam cũng có những doanh nghiệp bước đầu có được trình độ đó, hiện đại không kém gì các nước khác. Vậy, điểm khác biệt để các quốc gia có thể “cạnh tranh” với nhau chính là truyền thống văn hóa, là hồn cốt dân tộc. Sự đa dạng văn hóa của 54 dân tộc anh em, 7.000 lễ hội, 2.000 làng nghề… là những yếu tố để Việt Nam tạo dấu ấn riêng khi hội nhập. Chúng ta đánh thắng ngoại xâm, chống được dịch COVID-19 chính nhờ hồn cốt này.

Trong khi đó văn hóa được sinh ra, nuôi dưỡng và phát triển chính ở nông thôn. Do đó, phải coi nông thôn là thế mạnh, coi nông thôn là một đặc thù chứ không nên vội vàng đô thị hóa... Phân tích như thế để mình nhận thấy vai trò của nông thôn, của nông nghiệp, người nông dân. Đây là đặc thù của Việt Nam, thế mạnh của Việt Nam, là lợi thế Việt Nam.

Bộ trưởng đã từng nói nông nghiệp muốn phát triển phải có cách làm mới. Cách làm mới đó là phải ứng dụng khoa học kỹ thuật vào các khâu từ sản xuất chế biến rồi bảo quản… Tuy nhiên nếu để nông dân tự phát như hiện nay thì việc ứng dụng cách làm mới vào sản xuất bao giờ mới thành hiện thực?

Nói về khía cạnh nông nghiệp. Tất cả mọi nền kinh tế của mọi dân tộc đều đi lên từ nông nghiệp, đầu tiên phải ăn đã, có thực mới vực được đạo. Nếu sản xuất theo phương pháp truyền thống thì Việt Nam không có lợi thế gì. Đất đai chúng ta không nhiều, chỉ 33 triệu hecta đất tự nhiên, hơn một nửa là rừng núi. Bình quân diện tích đất trên đầu người chỉ xếp thứ 54 trên thế giới. Về vị trí, Việt Nam nằm ở bên bờ Biển Đông, có 28 tỉnh duyên hải. Khu vực đông Thái Bình Dương là rốn bão thế giới...

Có thể nói, về phát triển nông nghiệp, xuất phát điểm của chúng ta không cao. Nhưng với khát vọng Việt Nam, với con người, văn hóa Việt Nam, với đường lối chủ trương chính sách của Đảng, cùng sự đa dạng sinh học, đến giờ phút này, một đất nước có nhiều hạn chế như thế lại sản xuất lương thực không những đủ nuôi 100 triệu dân mà còn xuất khẩu. Năm 2019, Việt Nam xuất khẩu tới 40,5 tỉ USD nông sản, đứng thứ 15 thế giới, “kinh khủng” quá chứ gì nữa. Hãy nhớ lại, năm 1986, mỗi miền của đất nước chúng ta còn phải nhập khẩu 1 triệu tấn lương thực...

Điều đó cho thấy, nếu đi đúng hướng, sức mạnh của nền nông nghiệp Việt Nam sẽ lớn như thế nào. Không có một dân tộc nào, không có một đất nước nào chỉ trong hai ba chục năm mà làm nên câu chuyện từ một người “chạy ăn” từng bữa thành một ông chủ luôn đứng trong tốp 2- 3 thế giới về xuất khẩu lúa gạo. 5 năm gần đây, mỗi một năm tăng 2,5 tỉ nông sản xuất khẩu, là không đơn giản. Điều đó chứng minh rằng nền nông nghiệp Việt Nam, một nền nông nghiệp vô cùng đặc hữu gắn với văn hóa Việt Nam. Nếu chúng ta tổ chức tốt, trong vòng 10 năm nữa Việt Nam có thể đứng trong tốp 10 và còn có thể cao hơn nữa về thứ hạng các quốc gia xuất khẩu.

Thưa Bộ trưởng, không thể phủ nhận những thành quả lớn của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, điều kiện sản xuất và chất lượng cuộc sống của nông dân có tương ứng? Hiện nay đang có tình trạng là các giống nông sản đặc sản của các vùng miền một khi có giá trị thì các địa phương khác bung ra nhân rộng. Điều đó có cái lợi là tạo ra nhiều sản phẩm, có thể giải quyết được vấn đề giá trị sản phẩm tức thời, nhưng về lâu dài, sẽ bão hòa, dội chợ và sẽ phải “giải cứu”; trong khi cái hại lớn nữa là sản phẩm không còn mang tính đặc sản vùng miền nữa. Quan điểm của Bộ trưởng về vấn đề này như thế nào?

Về yếu tố nông dân. Nông dân Việt Nam tự hào là trước đây, với bình quân đất như thế, miếng ruộng bé như thế, cái cày cái cuốc là công cụ số một mà tần tảo nuôi con ăn học, có thể giải phóng dân tộc. Bây giờ, người nông dân Việt Nam đã khác trước. Chỉ một bộ phận nhỏ do hoàn cảnh lịch sử và yếu tố tuổi tác nên còn làm nông nghiệp theo cách cũ. Còn lại, miền nào, vùng nào, địa phương nào cũng có nông dân ứng dụng công nghệ cao. Có không ít thạc sĩ, kỹ sư đã quay về làm nông nghiệp. Điều đó đã chứng minh sự hấp dẫn của kinh tế nông nghiệp. Đã có sự chuyển đổi về nhận thức trong chính người dân. Rồi 10 năm nữa, thế hệ nông dân mới sẽ hoàn toàn đúng nghĩa là nông dân 4.0.

Nông dân tỉnh Long An theo dõi trình diễn phun thuốc bằng máy bay không người lái công nghệ Mỹ
Nông dân tỉnh Long An theo dõi trình diễn phun thuốc bằng máy bay không người lái công nghệ Mỹ.

Đời sống của nông dân các vùng miền cũng được cải thiện một cách căn bản thông qua Chương trình xây dựng Nông thôn mới. Đây là chương trình mà lần đầu tiên được thực hiện đồng bộ trên toàn bộ vùng nông thôn Việt Nam với hơn 8.000 xã, gần 700 huyện, 63 tỉnh thành.

Mặc dù Chương trình Nông thôn mới ra đời đúng lúc chúng ta khó khăn nhất về nguồn lực, bối cảnh kinh tế vĩ mô lúc đó cũng có nhiều nút thắt cần phải giải quyết (lạm phát 28%), tuy nhiên, đến nay, tổng thể chương trình đã đạt được rất nhiều thành quả tốt.

Những mục tiêu bao trùm của chương trình đều đạt và vượt. Mục tiêu đến năm 2020 cố gắng đạt 50% số xã đạt đủ 15 tiêu chí. Nhưng đến cuối 2019 chúng ta có hơn 5.500 xã đạt chuẩn NTM, chiếm khoảng 61%. Như vậy ta đã đi trước 1 năm và đi trước được 10%. Thứ 2, chúng ta đã hoàn thiện được 1 bộ thiết chế hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống bằng 10 lần những năm trước đó. Tổng giá trị 3 triệu tỉ đã được đầu tư vào đường nông thôn, thuỷ lợi…, tương đương mỗi năm 12 tỉ USD đầu tư vào khu vực này. “Kinh khủng ” chứ? Năm 2009, bình quân đầu người khu vực nông thôn là 9 triệu đồng/người/năm, đến năm 2019 đã đạt 40,8 triệu đồng/người/năm, tăng gấp 4 lần. Đây là chương trình rất thành công của Việt Nam. Tôi muốn nhấn mạnh, muốn phát triển bền vững, tạo ra được giá trị mới cho đất nước, nhất thiết phải có cách tiếp cận khác về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Không nên hình dung Việt Nam là một nền nông nghiệp con trâu đi trước cái cày đi sau, một nền nông nghiệp chỉ xuất khẩu lúa gạo đơn thuần. Bây giờ, quan trọng nhất không phải là tăng tổng sản lượng mà là phải khai thác tối đa tiềm năng giá trị từng loại nông sản. Ai làm giỏi việc gì thì nên làm việc đó; vùng miền nào có loại nông sản có giá trị cao thì ưu tiên phát triển nông sản đó. Đặc sản, chính là loại nông sản chất lượng cao mà số lượng có hạn. Vì nó ít, người dùng “thèm khát” thì phải bỏ nhiều tiền mới mua được. Sản xuất nông nghiệp theo hướng đó là đúng nghĩa theo quy luật giá trị...

Xin cảm ơn Bộ trưởng!

ĐẶNG THÙY thực hiện

 

;
.
.
.
.