Những rào cản kỹ thuật mà ngành trồng trọt và chăn nuôi cần 'nhảy qua' - Nông Thôn Việt

Những rào cản kỹ thuật mà ngành trồng trọt và chăn nuôi cần 'nhảy qua'

Thứ Sáu, 20/11/2020, 10:48 [GMT+7]

Sau 8 năm đàm phán song phương, Hiệp định Thương mại Tự do giữa châu Âu và Việt Nam (EVFTA) - hiệp định toàn diện nhất mà Liên minh châu Âu (EU) từng ký kết với một nước đang phát triển - đã có hiệu lực từ 01/08/2020. Và trong tháng 09/2020, Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành Nghị định 111/2020/NĐ-CP quy định về biểu thuế ưu đãi để thực hiện EVFTA trong giai đoạn
2020 - 2022.

 

Có thể nói thông qua EVFTA, Việt Nam và EU đã trao cho doanh nghiệp hai bên những công cụ pháp lý để mở ra một làn sóng thương mại và đầu tư mới. Tuy nhiên, Hiệp định này có thành công ở Việt Nam hay không, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, là tùy thuộc vào các doanh nghiệp trong nước. Đối với trồng trọt và chăn nuôi - hai ngành quan trọng của nông nghiệp và có đóng góp rất lớn vào GDP quốc gia, việc thực thi EVFTA trong thời kỳ này là cơ hội quý báu mà các doanh nghiệp của Việt Nam phải kịp thời nắm bắt. 

Điều đó cũng đồng nghĩa chúng ta phải nỗ lực tối đa để “nhảy qua” rất nhiều hàng rào kỹ thuật mà Hiệp định hàm chứa, để có thể tận dụng được lợi thế về thuế suất cho các sản phẩm ngành trồng trọt và chăn nuôi khi xuất khẩu sang thị trường EU.

Tiềm năng và cơ hội

Tại Hội thảo “Phổ biến rào cản kỹ thuật để triển khai Hiệp định EVFTA đối với ngành hàng trồng trọt và chăn nuôi” do Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tổ chức giữa tháng 10/2020, Cục trưởng Nguyễn Quốc Toản cho biết nông sản của Việt Nam hiện đã có chỗ đứng tại 17 trên tổng số 27 quốc gia châu Âu, và bức tranh xuất khẩu hàng hóa sang EU có sự tăng trưởng ấn tượng khi Hiệp định EVFTA mở ra nhiều cơ hội hơn cho nông sản Việt Nam. Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, EVFTA sẽ giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 20% vào năm 2020; 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với trước khi có Hiệp định. Việc cắt giảm thuế suất, cấp hạn ngạch, bảo hộ chỉ dẫn địa lý, thuận lợi hóa về thủ tục kiểm dịch động thực vật và tự chứng nhận xuất xứ là những cơ hội đối với sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi.

Theo Hiệp định, với sản phẩm trồng trọt, EU cam kết mở cửa rất mạnh cho rau quả Việt Nam bằng việc xóa bỏ ngay 94% trong tổng số 547 dòng thuế rau quả và các chế phẩm từ rau quả. Các mặt hàng chủ lực khác của Việt Nam như cà phê, hạt tiêu, hạt điều đều có thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Đối với sản phẩm chăn nuôi, thuế bằng 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực với động vật sống, thịt lợn, thịt trâu bò đông lạnh và lộ trình sau 5 - 7 năm đối với thịt gia cầm và thịt gia súc qua chế biến.

Đối với việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý, EU cam kết bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam, trong đó, hàng rau quả (chiếm 49%). Thuận lợi hóa về thủ tục kiểm dịch động thực vật, EU công nhận tương đương về kiểm dịch của Việt Nam, hai bên thống nhất cho phép nhà xuất khẩu được tự chứng nhận xuất xứ. Đây là cơ chế mà nhà xuất khẩu tự khai xuất xứ của sản phẩm trong bộ tài liệu nộp cho cơ quan hải quan của nước nhập khẩu thay vì phải xin giấy chứng nhận xuất xứ từ các cơ quan chức năng.

Những “hàng rào” thách thức

Bên cạnh cơ hội rộng mở thì EVFTA cũng hàm chứa những hàng rào kỹ thuật mà các doanh nghiệp ngành trồng trọt và chăn nuôi phải nỗ lực vượt qua nếu muốn nhận được thuế suất ưu đãi cho hàng hóa của mình khi xuất khẩu sang thị trường EU. Cùng với sức ép cạnh tranh trên thị trường nội địa, đó chính là những quy định liên quan vệ sinh an toàn thực phẩm (ATTP), môi trường, lao động và quy trình công nghệ sản xuất, chế biến… mà Hiệp định bắt buộc các nhà cung cấp tuân thủ.

Về thị trường nội địa, nhu cầu sử dụng các sản phẩm ngoại nhập - đặc biệt là những sản phẩm cùng loại có xuất xứ từ châu Âu đang ngày càng gia tăng. Chúng ta cần nhớ EU chiếm vị trí thứ 2 thế giới sau Hoa Kỳ về xuất khẩu nông sản. Năm 2019, khối Liên minh châu Âu xuất khẩu 181,9 tỷ EUR, xuất siêu 39,1 tỷ EUR nông sản. Trong EVFTA, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định song phương này có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế, chiếm 64,5% kim ngạch nhập khẩu. Tiếp đó, sau 7 năm, 91,8% số dòng thuế tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu từ EU được Việt Nam xóa bỏ thuế nhập khẩu. Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế, chiếm 99,8% kim ngạch nhập khẩu. Chỉ khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU là áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu dài hơn 10 năm.

Một “hàng rào” bao gồm các quy định về vệ sinh ATTP, kiểm dịch động thực vật (SPS), quy định về môi trường, các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT)... chắc chắn sẽ tạo ra những khó khăn, cản trở nhất định đối với hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Bởi không ít doanh nghiệp thường tập trung chủ yếu vào số lượng, chưa chú trọng nhiều đến chất lượng sản phẩm, việc áp dụng các quy phạm thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP, GMP, HACCP…) trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn rất hạn chế. Hoạt động chăn nuôi ở dạng quy mô nhỏ, lẻ, phát triển thiếu bền vững. Công tác xây dựng và tổ chức vùng sản xuất rau, quả an toàn tập trung chưa được chú trọng, còn tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất, chất bảo quản. Việc liên kết giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ chưa chặt chẽ, nguồn gốc, xuất xứ, chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu, thương hiệu cũng chưa được quan tâm đầu tư đúng mức…

“Vượt rào” để vào thị trường EU

Với nguồn nguyên liệu sẵn có, dồi dào, quy trình sản xuất/canh tác đáp ứng yêu cầu thị trường EU, gần đây doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu quan tâm đầu tư, nâng cao chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn trong nước và quốc tế… Đó chính là những lợi thế để nông sản Việt có thể tận dụng cơ hội và hạn chế khó khăn đối với sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi khi thực thi EVFTA. Theo ông Trần Thế Như Hiệp (Giám đốc Điều hành Công ty TNHH Công nghệ), các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất hàng nông sản cần chủ động, đổi mới trong mô hình, quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản để tạo ra sản phẩm an toàn, đặc thù, mang thương hiệu có uy tín. Trong hoạt động sản xuất, các doanh nghiệp nhất định phải tuân thủ các tiêu chuẩn được châu Âu chấp nhận như HACPP (Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn), xây dựng các tiêu chuẩn vệ sinh ATTP theo quy định của tổ chức Thú y thế giới (OIE) đối với sản phẩm động vật và IPPC (International Plant Protection Convention - Hiệp ước quốc tế về bảo vệ thực vật) đối với sản phẩm thực vật.

Đối với hoạt động xuất khẩu, ông Hiệp cho rằng các doanh nghiệp cần đảm bảo tính ổn định nguồn cung thông qua liên kết chặt chẽ giữa hợp tác xã, doanh nghiệp với người nông dân. Tăng cường mối liên kết sản xuất - tiêu thụ thông qua liên doanh, liên kết với các đối tác trong cộng đồng EU và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của thị trường để việc xuất khẩu sang các nước EU một cách bền vững.

Để có thể tháo gỡ rào cản kỹ thuật đối với nhóm sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU, các doanh nghiệp cần cập nhật kiến thức về các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nắm bắt và tận dụng được các lợi thế về mặt phi thuế quan, đặc biệt là hiểu biết về các biện pháp vệ sinh, an toàn thực phẩm kiểm dịch động thực vật (SPS). Tập trung vào chất lượng và đáp ứng được các tiêu chuẩn đặt ra của các tổ chức quốc tế liên quan (CODEX, IPPC, OIE).

TS. Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam

 

CÁC CHỨNG NHẬN CHẤT LƯỢNG VÀ CHỨNG NHẬN HỮU CƠ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM TRỒNG TRỌT VÀ CHĂN NUÔI XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU

CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỊ TRƯỜNG ĐÍCH

• Việt Nam: VietGAP, HACCP, GMP, hợp chuẩn hợp quy, công bố TCCL, VS ATTP...

• Mỹ: GlobalGAP, BAP, ASC, NOP (Organic Mỹ), HACCP, ISO9001, ISO22000, ISO14001, ISO27001, ISO50001, ISO45001

• EU: GlobalGAP, ASC, EU organic, HACCP, BRC, IFS, ISO22000, ISO14001, ISO27001, ISO50001, FSSC22000.

• Nhật: JAS, JAS organic, HACCP, ISO9001, ISO22000, ISO14001, ISO27001

• Các quốc gia Hồi giáo (27,3% dân số thế giới): HALAL

NHỮNG KIỂM NGHIỆM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỊ TRƯỜNG ĐÍCH

Việt Nam:

• Protit, Lipid, Vitamin…

• KS, KL nặng, thuốc BVTV, độc tố sinh học, chất kích thich tăng trưởng, phụ gia, vi sinh vật gây bệnh.

Mỹ:

• KS, KL nặng, thuốc BVTV, độc tố sinh học, chất kích thich tăng trưởng, phụ gia, vi sinh vật gây bệnh.

EU:

• KS (8 loại trên cá tra, tôm biển nuôi), KL nặng, thuốc BVTV (635 chất), chất kịch thích tăng trưởng, vi sinh vật gây bệnh

Nhật:

• KS, KL nặng (3 chỉ tiêu), TT sâu (vài trăm chất), siêu nạc, hormone tăng trưởng, VS gây bệnh.

Các quốc gia Hồi giáo:

• ADN của lợn, da và lông của lợn

• Dư lượng của cồn

 

GIA MINH

;
.
.
.
.