Tăng bội chi có đáng ngại? - Nông Thôn Việt

Tăng bội chi có đáng ngại?

Thứ Sáu, 20/11/2020, 16:48 [GMT+7]

Một cơ chế quản lý nợ công hài hòa với thông lệ quốc tế, siết chỗ cần siết, nhưng tạo được sự linh hoạt cho các khu vực kinh tế tự vay tự trả, tự chịu trách nhiệm về quyết định kinh doanh của mình đang là định hướng chính sách của Chính phủ.

 

Bội chi có thể tăng

Theo Báo cáo của Chính phủ gửi đến Quốc hội, năm 2020, bất chấp những khó khăn khách quan gây ra bởi đại dịch Covid-19, tổng trả nợ của Chính phủ 9 tháng đầu năm 2020 khoảng 241.375 tỷ đồng (tương đương với 65,8% kế hoạch cả năm), trong đó trả nợ trong nước khoảng 180.950 tỷ đồng (trả gốc 108.533 tỷ đồng, trả lãi và phí 72.417 tỷ đồng), trả nợ nước ngoài 60.425 tỷ đồng (trả gốc 50.226 tỷ đồng, trả lãi 10.199 tỷ đồng).

Trong bối cảnh thu ngân sách nhà nước (NSNN)gặp khó khăn, Chính phủ đang trình Quốc hội phương án tăng bội chi NSNN năm 2020 so với dự toán đã được thông qua (không quá 234.800 tỷ đồng, tương đương 3,44% GDP). Trường hợp Quốc hội phê duyệt tăng bội chi năm 2020, Chính phủ sẽ tính toán khối lượng vay tăng thêm từ các nguồn trong nước, đảm bảo phù hợp với nhu cầu thị trường, tuy nhiên chỉ thực hiện huy động vay bù đắp bội chi theo khả năng thực tế giải ngân năm 2020.

Chính phủ cũng cho biết, việc thực hiện trả nợ của Chính phủ cả năm 2020 có thể thấp hơn so với dự toán, chủ yếu do vận động thành công việc lùi thời điểm áp dụng điều khoản trả nợ nhanh vốn IDA vay Ngân hàng Thế giới đến 01/07/2021; diễn biến tỷ giá tiền VND so với các ngoại tệ chính tương đối ổn định và mặt bằng lãi suất trên thị trường vốn quốc tế hiện duy trì ở mức thấp kỷ lục trước tác động của đại dịch Covid-19… Như vậy, nhìn chung, quá trình thực hiện nghĩa vụ các khoản trả gốc, lãi của Chính phủ nằm trong mức đã được phê duyệt, đảm bảo đầy đủ, đúng hạn theo cam kết.

Tình hình vay, trả nợ của chính quyền địa phương cũng chưa có dấu hiệu gì đáng ngại. Cơ bản, ước thực hiện vay và trả nợ của chính quyền địa phương năm 2020 nằm trong hạn mức được Chính phủ phê duyệt. Dự kiến tổng mức vay ngân sách địa phương (NSĐP) trong năm 2020 khoảng 19.603 tỷ đồng; tổng trả nợ gốc trong năm khoảng 12.942 tỷ đồng. Dư nợ chính quyền địa phương cuối năm 2020 khoảng 50.365 tỷ đồng (nếu không bao gồm các khoản vay từ NHPT và vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ, dư nợ chính quyền địa phương ở mức 12.858 tỷ đồng).

Thận trọng với nợ nước ngoài

Tuy nhiên, tình hình nợ nước ngoài của quốc gia (bao gồm tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh và nợ nước ngoài của doanh nghiệp (DN), tổ chức tín dụng (TCTD) vay theo phương thức tự vay, tự trả) thì thực sự đáng quan tâm. Đây là quan điểm được cả Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước cùng chia sẻ.

Cụ thể, nếu dịch bệnh được kiểm soát tại Việt Nam và trên thế giới trong những tháng cuối năm, dự báo mức rút vốn ròng trung, dài hạn cả năm 2020 có thể ở mức 5.000 - 5.500 triệu USD, nằm trong hạn mức được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tối đa là 6.090 triệu USD. Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP đến cuối năm 2020 dự kiến tăng lên mức khoảng 47,9% GDP (so với mức 47,1% của năm 2019) chủ yếu do tăng trưởng kinh tế thấp hơn dự kiến; quy mô vay nước ngoài của DN và TCTD theo phương thức tự vay, tự trả tăng nhanh (từ 25,0% GDP năm 2019 lên khoảng 27,3% GDP cuối năm 2020); trong khi nợ nước ngoài của Chính phủ và Chính phủ bảo lãnh tiếp tục xu hướng giảm.

Dự báo chỉ tiêu trả nợ nước ngoài của quốc gia so với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ năm 2020 có thể lên mức 34,6% (so với giới hạn được Quốc hội cho phép là 25%), chủ yếu do hoạt động rút vốn và trả nợ gốc các khoản vay nước ngoài ngắn hạn của DN và TCTD tiếp tục tăng mạnh.

Căn cứ tình hình thực hiện 9 tháng đầu năm và dự báo những tháng cuối năm, dự kiến đến cuối năm 2020, nợ công khoảng 56,8% GDP; nợ Chính phủ khoảng 50,8% GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu NSNN ước khoảng 24,1%; nợ nước ngoài quốc gia khoảng 47,9% GDP; trả nợ nước ngoài của quốc gia so với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ khoảng 34,6%.

TS Nguyễn Đình Cung, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ nhận định, những con số trên cho thấy, về cơ bản dự kiến các chỉ tiêu nợ so với GDP duy trì trong các ngưỡng an toàn được Quốc hội cho phép; riêng chỉ tiêu trả nợ nước ngoài của quốc gia so với kim ngạch xuất khẩu vượt ngưỡng 25%. “Điều này có nghĩa là cần có biện pháp kiểm soát dòng tiền để đảm bảo an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia”, chuyên gia kỳ cựu nêu vắn tắt.

Chính sách cần thắt, mở hợp lý

Theo Dự thảo dự toán NSNN và phân bổ dự toán NSNN năm 2021 Chính phủ trình Quốc hội xem xét phê duyệt, bội chi NSNN dự kiến là 343.670 tỷ đồng, trong đó bội chi ngân sách Trung ương (NSTƯ) 318.870 tỷ đồng, bội chi NSĐP 24.800 tỷ đồng. Vốn vay của Chính phủ cho cân đối NSTƯ năm 2021 khoảng 579.772 tỷ đồng, bao gồm: vay bù đắp bội chi NSTƯ khoảng 318.870 tỷ đồng; vay để trả nợ gốc của NSTƯ khoảng 260.902 tỷ đồng.

Nếu dự toán này được Quốc hội thông qua, đến cuối năm 2021, nợ công khoảng 46,1% GDP trên cơ sở GDP đánh giá lại (khoảng 58,6% trên cơ sở GDP chưa đánh giá lại), nợ Chính phủ khoảng 41,9% GDP trên cơ sở GDP đánh giá lại (khoảng 53,2% trên cơ sở GDP chưa đánh giá lại); nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu NSNN có thể lên mức 27,4%.

Phân tích các chỉ tiêu này, chuyên gia tài chính - ngân hàng Cấn Văn Lực bảy tỏ mối quan tâm đến nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu NSNN nói chung và đặc biệt là chỉ tiêu trả nợ nước ngoài của quốc gia nói riêng. Theo giới quan sát, việc quản lý, giám sát chỉ tiêu nợ nước ngoài của quốc gia như Việt Nam hiện nay bất cập cả về công cụ cũng như phương thức quản lý.

Trên thế giới không có nước nào áp dụng hạn mức trần chung cho chỉ tiêu nợ nước ngoài quốc gia (của khu vực công lẫn khu vực tư), cũng không quốc gia nào đề ra mức trần chung đối với các khoản vay nước ngoài của khu vực tư nhân. Thay vào đó, các nước thường áp dụng công cụ quản lý đối với từng loại doanh nghiệp, tổ chức cụ thể. Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế từng có chung khuyến nghị Việt Nam nghiên cứu và xem xét điều chỉnh phương pháp thống kê nợ nước ngoài của khu vực công và khu vực tư nhân theo nguyên tắc nơi cư trú của chủ nợ để phù hợp hơn với chuẩn mực quốc tế; đồng thời theo dõi chỉ tiêu nợ nước ngoài theo tiêu chí ngoại tệ để quản lý rủi ro tỷ giá.

Các định chế tài chính này cũng khuyến nghị tách bạch quản lý nợ nước ngoài khu vực công và khu vực tư nhân, cụ thể là chỉ đề ra mức trần nợ công nước ngoài trên tổng dư nợ công. Thay vì mức trần “cứng” đối với chỉ tiêu trả nợ nước ngoài, cơ quan quản lý nhà nước sẽ chỉ thiết lập chỉ tiêu cảnh báo cho từng khu vực (khu vực công và khu vực tư nhân) để có các biện pháp điều chỉnh kịp thời; đồng thời nghiên cứu, đề xuất áp dụng bộ công cụ chính sách an toàn vĩ mô và kiểm soát luân chuyển vốn phù hợp với rủi ro của từng đối tượng vay nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Về các khoản vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả, cân nhắc bỏ hạn mức trần đối với các khoản vay nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh để tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp trong quyết định kinh doanh.

ANH PHƯƠNG

;
.
.
.
.