Cần chuẩn hóa các khái niệm và thuật ngữ để thảo luận và hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp ở nước ta hiện nay (bài 1) - Nông Thôn Việt

Cần chuẩn hóa các khái niệm và thuật ngữ để thảo luận và hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp ở nước ta hiện nay (bài 1)

Thứ Tư, 17/07/2019, 08:49 [GMT+7]

PGS.TS Vũ Trọng Khải, nguyên Hiệu trưởng Trường Cán bộ Quản lý (cơ sở phía Nam) của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, là tác giả của nhiều đầu sách, bài báo có giá trị trên lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, có nhiều đóng góp cho công cuộc phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam.

Tạp chí Nông thôn Việt trân trọng giới thiệu cùng độc giả bài viết đề cập đến một số khái niệm được sử dụng để hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp theo cơ chế kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Những khái niệm này, theo PGS.TS Vũ Trọng Khải, đang có sự khác biệt trong nhận thức của những nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia tư vấn.

GS
PGS.TS Vũ Trọng Khải, nguyên Hiệu trưởng Trường Cán bộ Quản lý (cơ sở phía Nam) của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn

Albert Einstein đã dạy rằng: Không thể giải quyết được vấn đề bằng chính tư duy đã tạo ra vấn đề đó. Điều đó có nghĩa là, muốn khắc phục những vấn đề đã nảy sinh và đang tồn tại của các chính sách hiện hành, nhằm thúc đẩy tiến trình phát triển nông nghiệp sang một giai đoạn mới, cao hơn, cần phải dựa trên những tư duy kinh tế mới. Người ta lại chỉ có thể tư duy bằng cách dựa trên những khái niệm và thuật ngữ diễn đạt nội hàm của những khái niệm đó.

Vì thế, khái niệm và thuật ngữ không chính xác thì tư duy cũng sẽ không chuẩn xác. Mặt khác, các khái niệm khoa học lại là những “viên gạch” xây lên “ngôi nhà” lý thuyết khoa học. Chỉ khi tư duy tạo ra những lý thuyết đúng đắn, chúng ta mới có cơ sở khoa học để đánh giá, phát hiện những vấn đề và nguyên nhân gây ra những vấn đề đó, để tìm ra những giải pháp khắc phục những vấn đề trong chính sách nông nghiệp hiện hành.

Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ bàn đến một số khái niệm kinh tế được sử dụng để hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp theo cơ chế kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Mà những khái niệm kinh tế này, theo tôi, đang có sự khác biệt trong nhận thức của những nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia tư vấn. Do vậy, để có thể thảo luận về chính sách phát triển nông nghiệp hiện hành, các khái niệm kinh tế nông nghiệp phải được hiểu giống nhau và xác lập các thuật ngữ tiếng Việt phản ảnh đúng nội hàm của các khái niệm đó.

1. Nền kinh tế nông nghiệp là một hệ thống làm ra nông phẩm bằng cách coi sinh vật (cây trồng, vật nuôi) là đối tượng sản xuất và đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, chưa thể thay thế được, liên kết hữu cơ với ngành công nghiệp chế biến và bảo quản, phân phối trên thị trường trong và ngoài nước.

Hình minh họa
Hình minh họa

2. Trang trại là “tế bào”của nền kinh tế nông nghiệp. Trang trại là một tổ chức (một đơn vị, một chủ thể) sản xuất – kinh doanh nông nghiệp chủ yếu thực hiện các khâu sản xuất mang tính sinh học (trồng trọt, chăn nuôi súc vật và nuôi trồng thủy sản) theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm lời – lỗ. Là “tế bào”, trang trại hoạt động chỉ tuân theo pháp luật và chủ sở hữu hay đại diện được ủy quyền chủ sở hữu, không có trang trại theo cấp trên và cấp dưới, là đơn vị duy nhất có quyền tự chủ kinh doanh để tối đa hóa lợi nhuận.

Là một tổ chức kinh doanh nông nghiệp, trang trại cũng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau được phân loại theo tiêu chí bản chất kinh tế - xã hội, chế độ sở hữu, địa vị pháp lý, như các tổ chức kinh doanh trong công nghiệp và dịch vụ.

2.1. Trang trại gia đình (Farmhousehold)

Đó là hộ cá thể kinh doanh nông nghiệp, thường gọi là kinh tế nông hộ, trang trại gia đình chủ yếu sử dụng tiền vốn, ruộng đất, mặt nước (thuộc quyền sở hữu hay quyền sử dụng, nếu phải đi thuê hay lĩnh canh), chuồng trại và sức lao động của gia đình để sản xuất nông sản hàng hóa và thu lợi nhuận.

Để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, người lao động phải thực hiện “nhất thì, nhì thục”, đối với từng cá thể cây trồng, vật nuôi trong mỗi khâu của quá trình sản xuất nông phẩm. Chỉ có trang trại gia đình mới có thể thực hiện được điều này do tinh thần trách nhiệm cao và qui mô sản xuất phù hợp với khả năng quản lý (tầm hạn quản trị) của những người lao động trong gia đình.

2.2. Trang trại cá nhân (Solefarm)

Chính là doanh nghiệp cá nhân kinh doanh nông nghiệp (luật Việt Nam gọi nhầm là doanh nghiệp tư nhân). Trang trại cá nhân do một cá nhân làm chủ sở hữu, trực tiếp quản lý tất cả các khâu của quá trình kinh doanh, chủ yếu sử dụng sức lao động làm thuê.

2.3. Trang trại hợp danh (farming partnership)

Chính là công ty hợp danh kinh doanh nông nghiệp, trong đó, thành viên hợp danh là đồng sở hữu, chịu trách nhiệm vô hạn và có quyền quản lý trang trại. Còn các đồng sở hữu khác chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn, không có quyền quản lý kinh doanh. Trang trại hợp danh chủ yếu sử dụng sức lao động làm thuê.

Cả hai loại trang trại cá nhân và hợp danh đều có thể thực hiện “nhất thì, nhì thục” như trang trại gia đình, nếu qui mô trang trại phù hợp với tầm hạn quản lý của người chủ sở hữu và trực tiếp quản lý, nhờ tinh thần trách nhiệm cao của họ. Ở Việt Nam hiện nay, có một vài trang trại hợp danh mang tên hợp tác xã để được hưởng chính sách ưu đãi của Chính phủ.

2.4. Trang trại trách nhiệm hữu hạn, trang trại cổ phần (farming company limited và farming corporation)

Chính là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần kinh doanh nông nghiệp, đều do các cá nhân góp vốn và là đồng sở hữu chủ công ty. Cả 2 loại trang trại này đều sử dụng sức lao động làm thuê, kể cả người quản lí.

2.5. Trang trại nhà nước (statefarm)

Thường được gọi là nông, lâm trường quốc doanh hay công ty nhà nước kinh doanh nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Trong đó, nhà nước là chủ sở hữu ít nhất 51% vốn sở hữu của doanh nghiệp. Phần vốn còn lại có thể do các cá nhân và tổ chức ngoài nhà nước làm chủ sở hữu.

Cả 03 loại trang trại trách nhiệm hữu hạn, trang trại cổ phần và trang trại nhà nước đều có lợi thế về qui mô vốn. Do qui mô kinh doanh lớn, phải sử dụng quá nhiều sức lao động làm thuê, nên các loại trang trại này phải thiết lập một vài cấp quản lý trung gian và thuê người quản lý. Vì vậy, các trang trại này thường không thực hiện được “nhất thì, nhì thục”, nên năng suất, chất lượng nông phẩm và hiệu quả kinh tế thấp xa so với trang trại gia đình.

Để khắc phục khiếm khuyết này, người ta phải thực hiện “khoán hộ” cho các gia đình người lao động làm thuê để họ tự chủ và tự chịu trách nhiệm thực hiện các khâu sản xuất mang tính sinh học trên đồng ruộng, ao nuôi, chuồng trại, như nông trường Sông Hậu thời Giám đốc Trần Ngọc Hoằng đã thực hiện. Thu nhập của hộ nhận khoán hoàn toàn phụ thuộc vào năng suất, chất lượng, giá thành của sản phẩm cuối cùng được tạo ra từ các khâu nhận khoán. Người nhận khoán từ địa vị người làm thuê trở thành người làm chủ sản xuất ở các khâu nhận khoán. Còn doanh nghiệp chỉ thực hiện các khâu dịch vụ đầu vào, đầu ra cho các hộ gia đình nhận khoán.

Hình thức khoán hộ thực chất là tái lập trang trại gia đình trong lòng doanh nghiệp, được gọi là trang trại gia đình dự phần (affiliated farmhousehold). Mô hình doanh nghiệp nông nghiệp này vừa phát huy được ưu thế của trang trại gia đình trong các khâu sản xuất mang tính sinh học và ưu thế của doanh nghiệp trong khâu dịch vụ đầu vào – đầu ra của kinh doanh nông nghiệp, vừa khắc phục được nhược điểm của trang trại gia đình có qui mô nhỏ và của doanh nghiệp có qui mô kinh doanh lớn, xóa bỏ được cấp quản lý trung gian.

Hơn nữa, mô hình này còn tạo ra ưu thế trong việc thiết lập hệ thống quản lý theo chuỗi giá trị nông sản, từ đồng ruộng, chuồng trại đến bàn ăn. Khoán hộ cũng chính là một hình thức sản xuất theo hợp đồng (contract farming). Trên thực tế, trang trại gia đình vẫn là loại hình trang trại phổ biến trong nền kinh tế thị trường do những ưu thế của nó. Nhờ tiến bộ kĩ thuật, áp dụng công nghệ mới, qui mô kinh doanh của trang trại gia đình ngày càng lớn, tạo ra lợi thế kinh tế theo qui mô (economies of scale).

Đó chính là sự khác biệt cơ bản giữa tổ chức kinh doanh nông nghiệp và tổ chức kinh doanh công nghiệp, dịch vụ.

2.6. Trang trại gia đình dự phần (affiliated farmhousehold)

Chỉ là một bộ phận của doanh nghiệp, không phải là một tổ chức kinh doanh độc lập, nhưng có quyền tự chủ trong việc thực hiện các khâu sản xuất mang tính sinh học, theo kế hoạch kinh doanh và qui trình kĩ thuật sản xuất của doanh nghiệp, được qui định trong cơ chế khoán.

3. Tích tụ, tập trung ruộng đất

Để có lợi thế kinh tế theo qui mô (economies of scale) và áp dụng công nghệ mới có hiệu quả, các trang trại trồng cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, nuôi trồng thủy, hải sản không ngừng tăng qui mô ruộng đất phù hợp với tầm hạn quản lý của chủ trang trại. Đó là xu thế tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường.

Thực chất của tích tụ và tập trung ruộng đất là tích tụ và tập trung tư bản trong nông nghiệp (accumulation of capital; concentration of capital). Nói cách khác, tích tụ và tập trung ruộng đất là hình thái hiện vật của tích tụ và tập trung tư bản.

3.1. Tích tụ tư bản (accumulation of capital) là sự gia tăng vốn kinh doanh của một số tổ chức kinh doanh tự chủ, bằng cách chuyển một phần lợi nhuận sau thuế vào vốn. Số vốn kinh doanh tăng lên này sẽ được dùng để mua, thuê thêm tư liệu sản xuất, ruộng đất và sức lao động. Nhờ đó, qui mô kinh doanh của tổ chức kinh doanh tăng lên.

3.2. Tập trung tư bản

(concentration of capital) là sự sáp nhập hai hay nhiều tổ chức kinh doanh tự chủ thành một tổ chức kinh doanh có vốn chủ sở hữu lớn hơn, để tạo ra lợi thế kinh tế theo qui mô, tăng khả năng cạnh tranh.

Trong nông nghiệp, tập trung tư bản đã làm gia tăng qui mô ruộng đất của một tổ chức kinh doanh.

Việc sáp nhập nhiều tổ chức kinh doanh thành một tổ chức kinh doanh duy nhất diễn ra theo 02 cách: (i) hai hay nhiều tổ chức kinh doanh thỏa thuận hợp nhất thành một tổ chức kinh doanh lớn hơn (merger). (ii) một doanh nghiệp lớn thôn tính bằng cách mua lại một hay vài tổ chức kinh doanh khác để tạo ra một tổ chức kinh doanh lớn hơn (acquisition).

Việc tập trung tư bản theo hai cách này được gọi là sáp nhập doanh nghiệp bằng cách hợp nhất và thôn tính (merger and acquisition M&A).

Tích tụ tư bản làm gia tăng vốn sở hữu của tổ chức kinh doanh đồng thời gia tăng vốn của nền kinh tế. Tập trung tư bản chỉ gia tăng vốn sở hữu của tổ chức kinh doanh mà không gia tăng vốn của nền kinh tế.

Như vậy, tích tụ và tập trung ruộng đất (Accumulation of land; Concentration of land) là một trong những kết quả biểu hiện bằng hiện vật của tích tụ và tập trung tư bản, tạo ra các trang trại có qui mô kinh doanh lớn hơn. Vì thế, việc “dồn điền, đổi thửa” không phải là một hình thức tích tụ và tập trung ruộng đất, vì nó không làm tăng qui mô ruộng đất của một nông hộ - trang trại gia đình, mà chỉ làm giảm số lượng thửa đất (số mảnh ruộng) của họ.

PGS.TS Vũ Trọng Khải

(Còn tiếp...)

;
.
.
.
.