Cần chuẩn hóa các khái niệm và thuật ngữ để thảo luận và hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp ở nước ta hiện nay (bài 2) - Nông Thôn Việt

Cần chuẩn hóa các khái niệm và thuật ngữ để thảo luận và hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp ở nước ta hiện nay (bài 2)

Thứ Năm, 18/07/2019, 08:53 [GMT+7]

Để có thể thảo luận về chính sách phát triển nông nghiệp hiện hành, các khái niệm kinh tế nông nghiệp phải được hiểu giống nhau và xác lập các thuật ngữ tiếng Việt phản ảnh đúng nội hàm của các khái niệm đó.

Tiếp theo...

4. Tập trung sản xuất và chuyên môn hóa sản xuất (Concentration of production and specializing of production)

Để tận dụng lợi thế so sánh và khai thác địa tô chênh lệch 1 của mỗi vùng nông nghiệp – sinh thái, người ta thực hiện việc tập trung và chuyên môn hóa sản xuất.

Tập trung sản xuất là trên một vùng nông nghiệp – sinh thái, nhiều tổ chức kinh doanh nông nghiệp (trang trại) cùng sản xuất một hay vài loại nông sản hàng hóa chủ lực. Khi qui mô của vùng sản xuất tập trung đủ lớn sẽ tạo ra vùng chuyên môn hóa sản xuất hay vùng chuyên canh. Nói cách khác, tập trung sản xuất là thể hiện mặt lượng của chuyên môn hóa sản xuất. Vùng sản xuất chuyên canh không phụ thuộc vào địa giới hành chính (tỉnh, huyện), mà phụ thuộc vào vùng lãnh thổ sinh thái tự nhiên và nhân văn.

Do vậy, chỉ có Chính phủ mới có đủ trách nhiệm và quyền hạn chỉ đạo phát triển vùng sản xuất chuyên môn hóa với những sản phẩm chiến lược của mỗi vùng. Các tỉnh không thể tự nguyện liên kết với nhau để xây dựng vùng sản xuất chuyên môn hóa do sự khác biệt về lợi ích.

Các mô hình cánh đồng lớn được tổ chức theo kiểu “liền đồng, khác chủ, cùng giống” là một hình thức tập trung sản xuất, không phải là một hình thức tích tụ và tập trung ruộng đất. Vì tập trung sản xuất tạo ra vùng chuyên môn hóa sản xuất mà không làm gia tăng qui mô ruộng đất của một đơn vị kinh doanh nông nghiệp – trang trại. Mặt khác, tích tụ và tập trung ruộng đất làm tăng qui mô kinh doanh của mỗi trang trại là điều kiện cần để thực hiện tập trung, chuyên môn hóa sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao.

5. Chủ trang trại và nông dân, người lao động làm thuê trong nông nghiệp

5.1. Chủ trang trại là người làm chủ và trực tiếp quản lý trang trại của mình (farmers): Những người đồng sở hữu, không trực tiếp quản lý kinh doanh trong trang trại hợp danh, trang trại trách nhiệm hữu hạn, trang trại cổ phần là nhà đầu tư kinh doanh nông nghiệp (Investor in agriculture – agricultural investor).

5.2. Nông dân: Chủ hộ và các thành viên khác của gia đình cùng quản lý và lao động trong trang trại gia đình (farm household) được gọi là nông dân (peasants). Người chủ nông hộ là người trực tiếp quản lý trang trại và đại diện theo pháp luật của trang trại (farm householder).

5.3. Người lao động làm thuê cho các trang trại (employee): Là công nhân nông nghiệp, không phải nông dân, không có khái niệm “nông dân không có đất và không có trang trại”.

6. Địa chủ (landowner)

Người sở hữu ruộng đất (hay quyền sử dụng ruộng đất theo pháp luật Việt Nam hiện hành) gọi là chủ đất hay địa chủ.

Cần phân biệt địa chủ trong kinh tế thị trường và trong kinh tế phong kiến, quân chủ.

Trong chế độ phong kiến hay quân chủ, người được nhà nước phong cấp ruộng đất hay sử dụng cường quyền để chiếm đoạt và sở hữu nhiều ruộng đất, rồi phát canh thu tô, được gọi là địa chủ phong kiến. Loại địa chủ này đã bị cuộc cách mạng dân chủ tiêu diệt.

Trong kinh tế thị trường, người sở hữu nhiều ruộng đất bằng tích tụ và tập trung ruộng đất theo cơ chế “thuận mua, vừa bán” là một loại trong các nhà đầu tư kinh doanh bất động sản.

Họ có thể lập trang trại trên đất của mình, nhưng phần đông cho người khác thuê (lĩnh canh) để lập trang trại và thu địa tô (cả địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch 1).

Bản chất kinh tế của việc “phát canh, thu tô” trong kinh tế thị trường cũng giống như hoạt động đầu tư xây dựng khu công nghiệp, xây nhà để cho người khác thuê làm công xưởng, văn phòng, hoặc để ở. Điều này cũng tương tự như hoạt động của công ty tài chính. Công ty này mua trang thiết bị sản xuất để cho người khác thuê lại.

Thật là vô lý, nếu chính sách hạn chế tích tụ và tập trung ruộng đất để phát canh thu tô trong nông nghiệp nhưng lại không hạn chế đối với hoạt động tích tụ và tập trung ruộng đất xây dựng khu công nghiệp, nhà cho thuê…

Việc tích tụ và tập trung ruộng đất chỉ bị hạn chế bởi tiến trình biến nông dân, người lao động nông nghiệp, thành thị dân và người lao động phi nông nghiệp một cách bền vững. Điều này, phụ thuộc vào chiến lược và chính sách phát triển công nghiệp, dịch vụ và khu đô thị, tức là phụ thuộc vào tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông nghiệp và nông thôn.

7. Doanh nghiệp đầu tư kinh doanh nông nghiệp

Hiện nay, các doanh nghiệp lớn đang có xu hướng đầu tư vốn vào nông nghiệp bằng cách chuyển một phần vốn từ kinh doanh công nghiệp, bất động sản, dịch vụ sang nông nghiệp. Các doanh nghiệp này phải mua hoặc cho thuê lại quyền sử dụng đất của các nông hộ nhỏ lẻ.

Các nông hộ chỉ sẵn sàng bán hay cho thuê ruộng đất lâu dài khi họ đã có sinh kế phi nông nghiệp ổn định và tốt hơn làm nông nghiệp, ở khu công nghiệp và đô thị. Nếu kinh tế phi nông nghiệp bấp bênh, nhiều rủi ro, họ chỉ cho mượn ruộng đất, cho thuê ngắn hạn hay thậm chí bỏ hoang. Khi đó, ruộng đất không còn là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, mà trở thành “vật bảo hiểm”, “của tiết kiệm” của các nông hộ nhỏ lẻ; Người lao động nông nghiệp không trở thành người lao động phi nông nghiệp một cách bền vững.

Trong trường hợp doanh nghiệp thuê được ruộng đất của các trang trại nhà nước, có quỹ đất lớn, họ cũng phải thực hiện khoán hộ cho người lao động, lập ra các trang trại gia đình dự phần (affiliated farmhousehold), đồng thời thiết lập hệ thống quản lý theo chuỗi giá trị nông sản, từ trang trại đến bàn ăn.

Nếu doanh nghiệp không thuê được ruộng đất lâu dài thì phải đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản và phân phối nông sản và liên kết với các loại trang trại để thực hiện tổ chức sản xuất theo hợp đồng (contract farming) và quản lý theo chuỗi giá trị nông sản trên vùng sản xuất chuyên canh (tập trung và chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp).

8. Sản xuất theo hợp đồng và chuỗi giá trị nông sản (contract farming and value chain of agricultral products)

8.1. Sản xuất theo hợp đồng là một cơ chế quản lý được thiết lập một cách tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi giữa trang trại và doanh nghiệp mua, chế biến nông sản. Theo đó, trang trại sản xuất và cung ứng nông sản theo tiêu chuẩn của doanh nghiệp; Doanh nghiệp kiểm soát và hướng dẫn trang trại thực hiện đúng qui trình, tiêu chuẩn kĩ thuật sản xuất, cung ứng một số hay tất cả nguồn lực đầu vào và mua nông sản của trang trại theo giá thỏa thuận được ghi trong hợp đồng.

Giá mua – bán nông sản theo cơ chế sản xuất theo hợp đồng không phải là thời giá khi kí hợp đồng hay giao nông sản, cũng không phải là giá trên thị trường giao sau. Giá này phản ánh sự phân chia lợi ích và rủi ro kinh doanh giữa trang trại và doanh nghiệp trong hoàn cảnh bình thường của tự nhiên và thị trường, theo nguyên tắc 2 bên cùng thắng. Trang trại hưởng lợi và chịu rủi ro trong khâu sản xuất mang tính sinh học. Doanh nghiệp hưởng lợi và chịu rủi ro trong khâu chế biến, bảo quản và tiêu thụ trên thị trường.

8.2. Sản xuất theo chuỗi giá trị nông sản

Sản xuất theo chuỗi giá trị nông sản là một cơ chế liên kết các chủ thể kinh doanh các khâu, công đoạn khác nhau của cùng một quá trình làm ra một loại nông sản nào đó nhằm chia sẻ và nâng cao lợi ích của mỗi chủ thể tham gia chuỗi giá trị. Theo đó, đầu ra của chủ thể kinh doanh này là đầu vào của chủ thể kinh doanh kế tiếp của quá trình kinh doanh. Cốt lõi của cơ chế sản xuất theo chuỗi giá trị nông sản là cơ chế quản lý sản xuất theo hợp đồng.

Nhờ vậy, ưu thế của trang trại gia đình và trang trại không có cấp quản lý trung gian được phát huy, điểm yếu của nó lại được hạn chế, khắc phục nhờ sự phát huy ưu thế của doanh nghiệp trong việc giải quyết 3 vấn đề: (i) thị trường và thương hiệu, (ii) áp dụng công nghệ mới, (iii) vốn kinh doanh. Giải quyết được 3 vấn đề này, doanh nghiệp mua,chế biến, bảo quản tiêu thụ nông sản trở thành chủ thể lãnh đạo chuỗi giá trị từ trang trại đến bàn ăn.

Trên đây là vài ý kiến lạm bàn về một số khái niệm và thuật ngữ kinh tế nông nghiệp, mà theo tôi cần thảo luận để có được nhận thức chung giống nhau. Trên cơ sở đó, chúng ta mới có thể thay đổi tư duy trong hoạch định chính sách nông nghiệp theo cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

PGS.TS Vũ Trọng Khải

;
.
.
.
.