Hướng đi nào giúp nông nghiệp Việt Nam khởi sắc? - Nông Thôn Việt

Hướng đi nào giúp nông nghiệp Việt Nam khởi sắc?

Thứ Hai, 26/08/2019, 09:55 [GMT+7]

Những năm qua, ngành nông nghiệp liên tục lập kỷ lục, phá kỷ lục với các con số nông sản xuất khẩu, tăng trưởng. Cuộc sống nhà nông, bộ mặt nông thôn đã khởi sắc hơn trước rất nhiều là điều mà bất cứ ai cũng có thể nhìn thấy, cảm nhận.

Tuy vậy, làm thế nào để người nông dân thực sự hạnh phúc trên mảnh đất của mình, nền nông nghiệp tiếp cận, hội nhập với nền nông nghiệp thế giới, để nông thôn thực sự là miền quê đáng sống… vẫn đang là nỗi day dứt, trăn trở của không chỉ những người có liên quan đến ngành nông nghiệp.

Để có cái nhìn đa chiều về những nút thắt trong ngành nông nghiệp, NTV mời bạn đọc theo dõi ý kiến đóng góp từ các góc tiếp cận khác nhau của các chuyên gia cùng “kế sách” mà các chuyên gia đưa ra để tháo gỡ các nút thắt đó.

GS VÕ TÒNG XUÂN:

Cần đơn giản hóa chính sách HTX và thay đổi tư duy “lão nông tri điền”

Việt Nam đã công bố Luật HTX vào các năm 1996, 2003 và 2012. Đây đều là các luật mới hoàn toàn chứ không phải sửa đổi lại luật cũ, tuy nhiên cho đến Luật HTX năm 2012 vẫn có tới 6 nghị định, hơn 340 quyết định và khoảng 500 thông tư. Với nông dân, những con số này là quá nhiều và cho thấy luật quá phức tạp. Nhà nước cần đơn giản hóa chính sách sao cho nông dân có thể tiếp thu và thực hiện được, làm sao để nông dân dễ dàng nhận ra mình sẽ thiệt thòi khi không tham gia HTX, khi đó luật mới có thể đi vào cuộc sống.

Một điều nữa cũng rất quan trọng, là chúng ta phải thay đổi được tư duy của nông dân. Chỉ khi bỏ hẳn tư duy “lão nông tri điền” để làm theo quy trình mới thì mới có thể làm giàu. Đơn cử, trong việc trồng lúa, nếu cứ để nông dân làm riêng lẻ trên mảnh đất manh mún, mạnh ai nấy làm với tâm lý chỉ cần bán được thật nhiều gạo, thì chúng ta sẽ không thể có gạo sạch. Vì sao, vì khi đó nông dân chỉ chú trọng đến sản lượng, dẫn đến việc lạm dụng phân hóa học, khiến cây lúa không còn vi sinh vật đối kháng, làm sâu bệnh dễ tấn công hơn và người dân buộc phải phun thuốc. Trong khi đó, các doanh nghiệp lại không có đủ lúa, gạo chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

Tóm lại, để cải thiện kinh tế cho nông dân cần thỏa mãn hai điều kiện là đơn giản hóa chính sách HTX và bản thân nông dân phải có tư duy sẵn sàng thay đổi để phát triển.

PGS.TS VŨ TRỌNG KHẢI:

Phải đào tạo nông dân sản xuất lớn, tập trung đất đai và phát triển kinh tế theo vùng kinh tế sinh thái

Hiện nay phần lớn người trẻ ở nông thôn đều lên thành thị làm công nhân. Với đồng lương ít ỏi, họ phải sống trong khu ổ chuột, phải con gửi về quê cho ông bà nuôi. Đến độ tuổi 35 - 40, sau khi không còn sức lao động thì họ lại quay về và bám lấy mảnh ruộng nhỏ nhoi của mình.

Do vậy, dù lên thành phố làm công nhân nhưng ruộng đất ở quê họ có thể cho mượn để giữ đất chứ không dám cho thuê lâu dài, càng quyết không bán. Ruộng đất đáng lẽ là tư liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp lại trở thành vật bảo hiểm của nông dân di cư, trở thành sổ tiết kiệm cho tuổi già do nông dân không thực sự biến thành thị dân một cách bền vững.

Câu chuyện này đòi hỏi những thay đổi, bắt đầu từ chính vấn đề tư duy.

Thứ nhất, chúng ta cần đào tạo những nông dân sản xuất lớn. Các trường nông nghiệp cả nước hiện không đào tạo nông dân mà chỉ đào tạo ngành thú y, bảo vệ thực vật, sinh viên chỉ học chăn nuôi chứ không học canh nông. Muốn có nông dân lớn phải đào tạo một tầng lớp nông dân mới, “thanh nông tri điền” thay cho “lão nông tri điền”, nông dân chuyên nghiệp thay thế cho nông dân cha truyền con nối. Thực tế cho thấy trong hội đồng quản trị của những HTX thành công đều có sự góp mặt của một hoặc nhiều nông dân sản xuất lớn, có hiểu biết, đủ năng lực quản lý.

Thứ hai, để giải quyết vấn đề thiếu hụt đất đai cho nông nghiệp thì phải biến nông dân thành thị dân bền vững, và việc tích tụ ruộng đất phải làm đúng theo định nghĩa kinh tế thị trường - đất đai được mua bán như hàng hóa - để đảm bảo được lợi ích chính đáng của nông dân.

Cuối cùng, chúng ta phải phát triển kinh tế theo vùng kinh tế sinh thái. Ví dụ vùng miền núi phía Bắc và Tây nguyên có lợi thế trồng cây làm thuốc, lại có những bài thuốc bản địa rất hay. Chúng ta có thể dùng công nghiệp chế biến sâu để áp dụng các bài thuốc này, tạo ra giá trị gia tăng cao. Mỗi vùng phải có một chuỗi giá trị được quản lý bởi doanh nghiệp đầu đàn.

Sau khi có nông dân sản xuất lớn và chuỗi giá trị ngành hàng, hiệp hội ngành hàng sẽ được thành lập, trở thành tiếng nói của tập thể, có khả năng phản biện chính sách và bảo vệ người sản xuất bao gồm cả đơn vị chế biến và nông dân.

TS PHAN HIẾU HIỀN:

Nên sản xuất trên diện tích lớn, doanh nghiệp điều hành và nhà nước giám sát

Sau một thời gian vận động san phẳng ruộng bằng cách gộp nhiều mảnh ruộng có diện tích nhỏ thành một mảnh lớn để canh tác, chúng ta đã đạt thành quả nhất định. Vướng mắc đang gặp phải là nông dân phần nhiều sản xuất quy mô nhỏ với tư duy cũ dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp khi liên kết với họ. Khi doanh nghiệp ký hợp đồng cung ứng hàng thì phải bảo đảm số lượng, chất lượng và thời gian giao với khách hàng. Nếu chỉ 1 - 2% nông dân không đổi mới tư duy, dễ dàng bội tín thì doanh nghiệp sẽ chịu thiệt hại lớn.

Theo tôi, chúng ta nên đi theo mô hình cho doanh nghiệp hoàn toàn chủ động mua lại ruộng đất theo kiểu thuận mua vừa bán, nông dân lúc này trở thành người làm công cho doanh nghiệp và sản xuất theo quy trình nghiêm ngặt chứ không thể tự do sản xuất và phun thuốc như trước đây. Lúc này vai trò quan trọng của nhà nước là làm sao để doanh nghiệp không bóc lột nông dân và sử dụng đất đúng mục đích.

ÔNG NGUYỄN CHÍ THIỆN - PGĐ SỞ NN&PTNT TỈNH LONG AN:

Cấp cơ sở gặp khó khăn vì thiếu thông tin và nhiễu loạn thông tin

Tỉnh Long An có 70.000ha đất trồng lúa nếp, Bộ NN&PTNT khuyến cáo các tỉnh giảm diện tích lúa nếp vì một số biến động thị trường, do đó tôi đã vận động bà con làm theo. Nhưng sau khi giảm diện tích nếp thì giá nếp lại tăng, tôi không biết giải thích với dân thế nào?

Vừa rồi trong một hội nghị, một doanh nghiệp có tiếng trong xuất khẩu gạo của tỉnh đã phát biểu rằng Long An tự hào vì nếp có chất lượng cao, xuất khẩu đi được nhiều nước nên phải xây dựng thương hiệu để phát triển cây lúa nếp. Sau đó doanh nghiệp khác phản biện rằng nếp hiện chỉ xuất được chủ yếu sang Trung Quốc nên phải cẩn trọng nếu muốn tăng diện tích lúa nếp. Ý kiến nào chính xác?

Mới đây, 8.000ha mía của người dân phải chặt bỏ do thua lỗ liên tục 2 năm, dân hỏi chúng tôi nên chuyển đổi sang trồng cây gì, tôi cũng không dám khuyên. Ban đầu chúng tôi dự tính xây dựng chương trình trồng mít vì mít đang được giá, khoảng 50.000 đồng/kg. Nhưng có nhà nghiên cứu đi Hậu Giang về nói với chúng tôi rằng Hậu Giang đang trồng 10.000ha mít và các tỉnh khác cũng đua nhau trồng, và người này quả quyết rằng với đà này chỉ sau 2 năm nữa mít sẽ chỉ còn 5.000 đồng/kg. Tình hình này khiến chúng tôi rất đau đầu. Có thể nói chúng tôi đang thiếu thông tin và bị nhiễu loạn thông tin.

TS NGUYỄN VĂN GIÁP:

3 vấn đề lớn của nông nghiệp nước ta hiện nay là con người, thông tin và thể chế

Về vấn đề con người, để giúp đỡ nhà nông phát triển trong điều kiện thách thức về biến đổi khí hậu, môi trường, thị trường, khoa học công nghệ, chúng ta phải kỳ vọng nhiều vào lực lượng nông dân trẻ. Chúng ta phải tạo ra được hạt nhân là nông dân trẻ, có tư duy đổi mới để lan truyền sự thay đổi đến lớp nông dân lớn tuổi.

Về mặt thông tin, việc nông dân thiếu chữ tín và sử dụng hóa chất hay chất lượng sản phẩm không đảm bảo cũng là do thất bại trong thông tin. Chúng ra có thể củng cố thông tin bằng cách tìm hiểu triển khai các công nghệ mới như công nghệ 4.0, dữ liệu lớn, AI, mobile…

Tuy nhiên vấn đề con người và thông tin chỉ có thể được củng cố thành công nếu có được một thể chế tạo điều kiện để mở rộng và linh hoạt các nguồn lực. Nền nông nghiệp Việt Nam chỉ có thể đạt được những thay đổi lớn khi có quy mô trang trại lớn và tập trung được nguồn lực trẻ.

KIM NHàghi

;
.
.
.
.