Ngày xuân, bàn về vốn xã hội - Nông Thôn Việt

Ngày xuân, bàn về vốn xã hội

Thứ Tư, 29/01/2020, 07:37 [GMT+7]

Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" là sự đúc kết kinh nghiệm trồng lúa của cha ông ta. Bốn yếu tố (bốn nguồn lực) nước, phân, lao động, giống là không thể thiếu cho công việc nói trên. Xây dựng một xã hội phát triển thì cũng giống như trồng lúa, các nguồn lực là không thể thiếu. Những nguồn lực cơ bản nhất ở đây là vốn tài chính, vốn tri thức và vốn xã hội (còn có thể gọi là tư bản tài chính, tư bản tri thức và tư bản xã hội). Tiền và kiến thức cần thiết là điều dễ hiểu. Thế nhưng, tại sao lại là vốn xã hội?

 

 

Vốn xã hội là mạng lưới quan hệ giữa con người với con người trong xã hội giúp cho xã hội đó vận hành hiệu quả.

Có ai đó trong số những người ngoại quốc đã từng nhận xét: Một người Việt thì hơn một người Nhật. Hai người Việt thì khó hơn hai người Nhật. Ba người Việt thì chắc chắn không hơn ba người Nhật. Đây, có lẽ, là một lời khen để chê cho dễ. Tuy nhiên, thuốc đắng dã tật, nó giúp chúng ta suy ngẫm về thực trạng của mình. Tại sao người Việt lại chưa thể kết hợp với nhau để làm nên sức mạnh?

Phẩm chất trí tuệ và sự cần cù của những người Việt là không thua kém bất kỳ ai trên thế giới. Tuy nhiên, những phẩm chất đó sẽ không thể phát huy được tác dụng nếu chúng ta không có một nguồn lực khác để kết dính chúng lại với nhau. Chất kết dính đó chính là vốn xã hội. Và đây là thứ mà có vẻ như chúng ta đang thiếu cho sự cất cánh nhanh chóng của mình.

Vốn xã hội được cấu thành từ niềm tin và sự hợp tác. Niềm tin là cơ sở quan trọng để mọi giao dịch có thể xảy ra nhanh chóng và hiệu quả. Càng có niềm tin thì chi phí giao dịch càng được cắt giảm, công việc làm ăn nhờ đó càng dễ dàng. Bất cứ nơi nào không có niềm tin thì mọi công việc đều diễn ra chậm chạp. Nếu các cơ quan công quyền không có niềm tin đối với người dân, thì thủ tục hành chính sẽ khó đến mức làm cả năm trời không xong. Ngược lại, nếu người dân không có niềm tin đối với Nhà nước, thì chính sách, pháp luật sẽ bị vô hiệu hóa bởi sự lẫn tránh và sự “lách luật” của họ. Chi phí Nhà nước phải bỏ ra để đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống sẽ lớn đến mức mà trước sau gì thì Nhà nước cũng sẽ bị hụt hơi. Niềm tin không hình thành một cách tự nhiên, nó là sản phẩm của một sự kiểm nghiệm lâu dài, của một nền văn hóa lên án và loại trừ sự bội tín.

Hợp tác là khả năng kết hợp các nguồn lực để đưa các ý tưởng mới, các kế hoạch phát triển vào cuộc sống. Không một ai ở trên đời có thể có đủ nguồn lực về tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng cũng như tiền bạc để một mình làm lấy tất cả. Trong một xã hội hiện đại với sự chuyên môn hóa sâu sắc, thì chúng ta bao giờ cũng phải dựa vào nhau để sống, để làm ăn và thành đạt. Để có được điều này, chúng ta buộc phải ghi nhận vai trò của người khác, buộc phải ghi nhận rằng mỗi người chúng ta đều có thế mạnh không thể thay thế của mình. Kết hợp thế mạnh của những người Việt lại với nhau chính là nền tảng quan trọng nhất để chúng ta vươn lên sánh vai với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Trở lại với việc tại sao chúng không chỉ chưa giàu có về vốn tri thức, vốn tài chính, mà còn cả vốn xã hội. Sự nghèo khó về vốn xã hội xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả những đặc tính nằm trong "gen" di truyền văn hóa của người Việt.

Trước hết, đó là cái tâm lý "Trúc xinh trúc mọc đầu đình. Em xinh em đứng một mình cũng xinh". Kiểu gì thì kiểu, cứ đứng một mình mới xinh. Như những cây "trúc" riêng rẽ, người Việt chúng ta thật sự có những phẩm chất trí tuệ khá cao siêu. Cứ nhìn vào những giải thưởng quốc tế mà người Việt giành được trong các kỳ thi quốc tế về toán, lý, hóa, cờ vua... thì chúng ta sẽ rõ. Thế nhưng cứ gom những cây "trúc xinh" này lại với nhau thì chúng ta sẽ có cả một rừng trúc mịt mùng, rối rắm: mọi lý lẽ, mọi cố gắng đều bị vô hiệu hóa trong sự bùng nhùng của các mối quan hệ.

Ngoài ra, tâm lý "con gà tức nhau tiếng gáy" cũng làm khổ không ít người Việt chúng ta. Đại loại, hai nhà khoa học khó có thể đánh giá cao các công trình của nhau. Hai nhà kinh doanh khó lòng hỗ trợ nhau trong việc xây dựng uy tín và thương hiệu của mình. Ganh đua và cạnh tranh là hai thứ tương đồng, nhưng vẫn là hai thứ khác nhau. Cạnh tranh là sự vươn lên bằng thực lực và sự phấn đấu, còn ganh đua là việc ngăn cản người khác với sự tức tối trong lòng.

Do tâm lý ganh đua, những người Việt chúng ta cũng giống như những nguồn lực ngược chiều luôn luôn triệt tiêu hoặc vô hiệu hóa lẫn nhau.

Cuối cùng, điều quan trọng là đất nước Việt Nam phải trở nên hùng cường và thịnh vượng. Mà để làm được như vậy thì vốn xã hội là không thể thiếu. Muốn có được nguồn vốn xã hội dồi dào chúng ta lại cần chiến thắng những nét tâm lý tiêu cực của người Việt.

TS. NGUYỄN SĨ DŨNG

;
.
.
.
.