Nông nghiệp Việt ra sao sau cơn đại dịch? - Nông Thôn Việt

Nông nghiệp Việt ra sao sau cơn đại dịch?

Thứ Sáu, 10/04/2020, 09:55 [GMT+7]

Covid-19 đã khiến cả thế giới rơi vào cuộc khủng hoảng toàn diện, chưa từng có. Cách đây vài ba tháng, khi dịch mới khởi phát ở Vũ Hán - Trung Quốc, không ai nghĩ mức độ lây lan và ảnh hưởng của nó lại nghiêm trọng đến như vậy. Và, đến nay, cũng không quốc gia nào, kể cả các nước phát triển G7, có thể chủ động khống chế được đại dịch và dọn dẹp hậu quả để đưa cuộc sống trở lại bình thường như trước khi có dịch.

 

Hình minh họa
Hình minh họa

Việt Nam không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó. Mặc dù Đảng và Chính phủ đã rất chủ động, quyết liệt trong việc phòng chống dịch và kết quả ban đầu đạt được rất đáng khích lệ (nước ta ở gần trung tâm dịch Vũ Hán nhưng đến cuối tháng 3/2020, số ca lây nhiễm chưa quá 200, đặc biệt, chưa có ca nào tử vong), tuy nhiên những thiệt hại về kinh tế, xã hội, đối với một quốc gia có thu nhập trung bình thấp như nước ta, thì chưa thể lượng định được. 

Bên cạnh các ngành kinh tế bị thiệt hại dễ thấy như hàng không, du lịch, giao thông vận tải, nhà hàng, khách sạn… thì sản xuất nông nghiệp cũng bị tác động không kém. Covid-19 khiến các quốc gia đóng cửa biên giới, không chỉ sự đi lại mà mọi sản phẩm, hàng hóa vào và ra đều bị ách tắc. 

Lâu nay, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ chính các mặt hàng rau quả tươi, hải sản tươi sống… Nay Trung Quốc bế quan tỏa cảng, không chỉ thanh long, chuối, dưa hấu… ứ đọng mà đến cả tôm thẻ, tôm hùm, cá tra… cũng sụt giảm sản lượng tiêu thụ. Thành phẩm không tiêu thụ được thì cây giống, con giống, thức ăn, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, động vật… cũng bí đầu ra. Rồi các nhà máy chế biến cũng bị giảm sản lượng bởi các thị trường nhập khẩu lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản đều giảm hoặc ngừng tiếp nhận… Và, nguồn “đầu vào” của nông sản, chính là những người sản xuất nông nghiệp - trong đó, phần lớn là nông dân, sẽ chịu áp lực trực tiếp từ cuộc khủng hoảng dây chuyền nói trên.

Sau cơn đại dịch, sản xuất, đời sống khó khăn là có thực. Kinh tế suy thoái là khó tránh khỏi. Nhưng không thể bó tay, đầu hàng hoặc ngửa cổ trông trời. Người Việt, từ bao đời nay, luôn dũng cảm đối mặt và vượt qua khó khăn, với phương châm “cái khó ló cái khôn”. Trong nỗ lực vượt đại dịch này, cũng “ló” ra cơ hội để nông nghiệp Việt Nam, nông dân Việt Nam định vị lại thị trường, chủng loại và chất lượng nông sản Việt. Việc sản xuất chạy theo thị trường xuất khẩu, sản xuất chạy theo sản lượng, số lượng, sản xuất tự phát không có quy hoạch và không thể kiểm soát… đã đến lúc phải thay đổi. 

Với dân số hơn 90 triệu người, thu nhập bình quân ngày một nâng lên, Việt Nam là một thị trường tiêu thụ nông sản không hề nhỏ. Lấy ví dụ, sản lượng tôm trong nước năm 2019 khoảng hơn 500 ngàn tấn, nếu bình quân 1 người dân tiêu thụ 1 kg tôm/năm, thì chỉ cần 50% dân số, đã tiêu thụ hết toàn bộ số lượng đó. Các sản phẩm khác cũng tương tự. Vấn đề là tư duy tiếp thị, cải tiến phân phối để hàng Việt đến tay người tiêu dùng Việt với giá rẻ hơn giá xuất khẩu.

Thứ hai, cần thay đổi tư duy sản xuất chạy theo năng suất và số lượng, sang sản xuất theo yêu cầu chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm. Riêng mặt hàng gạo, lâu nay chúng ta đã “đua” sản lượng lên vị trí số 1 số 2 thế giới, trong khi giá bán xuất khẩu luôn thấp so với Thái Lan. Gạo Việt không có thương hiệu. Mấy năm gần đây, ngành sản xuất lúa gạo đã chú ý hơn đến chất lượng. Năm 2019, giống lúa ST25 của Sóc Trăng được công nhận là gạo ngon nhất thế giới, sẽ thêm yếu tố để gạo Việt duy trì và phát triển sản xuất theo hướng chất lượng. Các sản phẩm khác, đặc biệt là trái cây, các loại hạt (cà phê, tiêu, điều, mắc ca…), hải sản… cũng cần phát triển sản xuất theo hướng này, để đủ sức cạnh tranh với các loại nông sản ngoại nhập về chất lượng và hơn hẳn về giá cả.

Thứ ba là sản xuất theo quy hoạch, ổn định về diện tích và chất lượng nông sản theo thương hiệu địa phương, vùng miền. Bưởi da xanh là đặc sản của Bến Tre, cũng như bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), cam Xã Đoài (Nghệ An), cam Cao Phong (Hòa Bình)… mỗi địa phương có một số sản phẩm độc đáo. Nếu đem phát triển tràn lan khắp cả nước, chắc chắn chất lượng sẽ không đảm bảo, giá cả sẽ xuống thấp và sẽ có ngày dội chợ, kêu cứu… Cho nên cần quản lý chặt quy hoạch về diện tích và chủng loại sản phẩm thông qua các hội, hiệp hội ngành nghề của từng địa phương, vùng miền… 

Cũng qua đại dịch này, để bảo vệ sức khỏe cho mình và gia đình mình, chắc chắn người tiêu dùng Việt sẽ phải thay đổi thói quen mua hàng hóa trôi nổi, không có thương hiệu, không rõ xuất xứ. Đó cũng là cơ hội cho nhà nông phát triển sản xuất theo hướng chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm và xây dựng thương hiệu.

NGUYỄN ĐỨC

;
.
.
.
.