Trên đường hội nhập, điều phải được quan tâm hàng đầu là chất lượng - Nông Thôn Việt

Trên đường hội nhập, điều phải được quan tâm hàng đầu là chất lượng

Thứ Năm, 23/04/2020, 10:03 [GMT+7]

Trong xu thế toàn cầu hóa, khi cánh cửa ngày càng rộng mở cho nhiều quốc gia dự phần vào sân chơi thương mại quốc tế, hội nhập là điều tất yếu để nền kinh tế của quốc gia duy trì và phát triển. Không nằm ngoài xu thế đó, ngành thủy sản Việt Nam đang ngày một hội nhập sâu rộng hơn. Để có được cái nhìn tổng quát về hiện trạng ngành xuất khẩu thủy sản nước ta cùng những chia sẻ hữu ích cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành, Tạp chí Nông thôn Việt đã có cuộc trao đổi với ông Trương Đình Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

 

Ông Trương Đình Hòe
Ông Trương Đình Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

 

Xin ông cho biết những lợi thế hiện nay của ngành xuất khẩu thủy sản nước ta?

- Càng ngày nguồn thủy sản tự nhiên càng ít đi, con người dần chuyển sang phụ thuộc vào nguồn thủy sản nuôi trồng. Do các yếu tố thuận lợi về mặt địa lý, điều kiện nuôi, nguồn nhân công… hiện nguồn cung thủy sản nuôi của thế giới chủ yếu nằm ở châu Á. Nhờ vậy, nước ta có điều kiện phát triển ngành nuôi trồng thủy sản để cung cấp nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu.

Có thể thấy rõ điều này qua tốc độ tăng trưởng của ngành thủy sản trong nhiều năm qua luôn đi cùng với sự tăng trưởng của ngành nuôi trồng thủy sản. Thay vì chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm đánh bắt từ biển như trước đây, hiện nay trong sản lượng xuất khẩu thủy sản của nước ta, chỉ có 30% là từ đánh bắt và tới 70% từ nuôi trồng. Việt Nam hiện đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu thủy sản (sau Trung Quốc và Na Uy).

Là quốc gia duy nhất có thể sản xuất và xuất khẩu cá tra ở quy mô và số lượng lớn, nhiều năm gần đây, xuất khẩu cá tra đã đem lại cho nước ta doanh thu khoảng 2 tỷ USD/năm. Tôm cũng là một mặt hàng xuất khẩu nổi bật. Hiện nay khoảng 80 - 90% nguồn tôm nuôi của thế giới tập trung ở châu Á, trong đó Việt Nam cũng là một đất nước có khả năng cung ứng tốt, khoảng 600.000 – 700.000 tấn/năm.

Việt Nam còn có thêm lợi thế là quốc gia đi sau trong việc xuất khẩu thủy sản, khi hệ thống logistics quốc tế đã phát triển mạnh, chi phí vận chuyển rẻ đi rất nhiều. Đồng thời nước ta được tiếp cận công nghệ mới hơn, thiết bị tốt hơn với chi phí rẻ hơn, giúp tăng khả năng cạnh tranh.

Ngành thủy sản cũng được Chính phủ chú trọng phát triển đồng bộ từ khâu nuôi trồng, chế biến đến khai thác, phụ trợ… khiến xuất khẩu thủy sản đạt nhiều thành tựu cao. Năm 2000 xuất khẩu thủy sản nước ta đạt 1 tỷ USD, con số này đã lên tới 8,6 tỷ USD năm 2019. Đây là sự tăng trưởng khá nhanh so với các ngành khác.

Hiện ngành thủy sản Việt Nam có 4 thị trường xuất khẩu chính là Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc. Mỗi thị trường chiếm tỷ trọng khoảng 15 - 18% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Chúng ta đang cố gắng cân đối giữa các thị trường chính để không quá phụ thuộc vào thị trường nào. Mức độ chuyên biệt của các cơ sở chế biến và xuất khẩu thủy sản cũng ngày càng cao hơn, như có cơ sở chỉ chuyên làm một mặt hàng và tập trung xuất khẩu phần lớn cho một thị trường chính - làm tăng tính ổn định trong hoạt động của cơ sở.

Nuôi tôm tại Bạc Liêu.
Nuôi tôm tại Bạc Liêu.

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam dù tăng trưởng mạnh trong thời gian qua nhưng vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn từ vấn đề chất lượng sản phẩm, cạnh tranh không lành mạnh… Ông nhận định như thế nào về hiện trạng này?

- Khó khăn đầu tiên của ngành thủy sản là từ khâu kiểm soát chất lượng nguyên liệu. Là nguyên liệu tươi sống nên thủy sản mang tính mùa vụ, không ổn định, được mùa mất giá… Trong khi về mặt sản xuất, chúng ta vẫn đang làm theo kiểu nông hộ. Điều này bắt buộc nhà máy chế biến cần một hệ thống kiểm soát dày đặc để tránh rủi ro trong quá trình thực hiện các hợp đồng, nếu muốn đảm bảo nguyên liệu đáp ứng được tiêu chuẩn đồng đều, đúng quy cách, yêu cầu của nhà nhập khẩu.

Khó khăn thứ hai là từ các yếu tố cạnh tranh bên ngoài, truyền thông bẩn và các vấn đề liên quan đến rào cản thương mại. Nói về truyền thông bẩn, đã từng có tiền lệ một quốc gia tung ra truyền thông bẩn về chất lượng thủy sản Việt Nam. Cụ thể họ sang nước ta quay phim một hộ nuôi cá không đảm bảo chất lượng rồi đưa lên các phương tiện truyền thông, khiến việc xuất khẩu sang nước này đang tốt bỗng đột ngột quay đầu, sụt giảm đến khoảng 75%. Các phản ánh tương tự có thể có lúc đúng, tuy nhiên không thể đại diện cho toàn bộ ngành thủy sản Việt Nam. Do đặc thù của ngành nông nghiệp là sản phẩm không thể đồng đều và chính xác như công nghiệp, tạo điều kiện dễ dàng cho những “chiến dịch” truyền thông như vậy.

Về rào cản thương mại thì phổ biến đối với xuất khẩu thủy sản hiện nay là thuế chống bán phá giá (tôm và cá tra của Việt Nam đang bị áp thuế chống bán phá giá tại thị trường Hoa Kỳ) và các yêu cầu khắt khe hơn về mặt chất lượng so với thông lệ quốc tế từ các quốc gia nhập khẩu.

Đối mặt với những rào cản đó, chúng ta phải làm gì để vượt qua, thưa ông?

- Tất nhiên, chúng ta cần đáp ứng được những yêu cầu của thị trường nhập khẩu, nhưng đồng thời cũng phải có những tranh luận. Hiện nay chúng ta đang hội nhập vào WTO, đã có những quy tắc, thỏa thuận chung. Do đó, nếu có những rào cản liên quan đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) hoặc những rào cản phi thuế quan, chúng ta cần có những đấu tranh cần thiết dựa trên các quy tắc chung để bảo vệ sản phẩm của mình.

Ngành thủy sản có thể nói là ngành có nhiều vụ việc phải kiến nghị lên WTO giải quyết nhất. Tuy WTO không phải là tòa án, nhưng chúng ta có thể đưa các vụ việc lên WTO và yêu cầu các quốc gia thành viên phải thực hiện đúng cam kết. Trước những quy định bất lợi do quốc gia nhập khẩu đưa ra, chúng ta có thể tận dụng thời gian khi quy định mới chưa hiệu lực để trao đổi, đấu tranh hoặc có các hướng giải quyết phù hợp, và lúc này cần tiếng nói của các cơ quan nhà nước.

Ví dụ như trường hợp Nhật Bản áp quy định kiểm soát hàm lượng Trifluralin (hóa chất dùng trong bảo vệ thực vật) đối với toàn bộ số lô tôm nhập khẩu từ Việt Nam vào thị trường này. Trong khi thị trường thế giới đang yêu cầu mức 100ppb thì Nhật Bản quyết định kiểm soát ở mức giới hạn 10ppb. Thời điểm này cơ quan chức năng của Việt Nam đã làm việc với phía Nhật Bản để yêu cầu họ thẩm tra, đánh giá, thử nghiệm… và sau đó Nhật Bản cũng đã điều chỉnh giới hạn dư lượng tối đa đối với chất này lên 100ppb.

Theo ông, chúng ta cần làm gì để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản trong thời gian tới?

- Trước hết, chúng ta cần củng cố và hoàn thiện hệ thống sản xuất theo hướng tối ưu, sao cho ngành thủy sản có thể cung ứng được các sản phẩm đạt yêu cầu của thị trường với giá thành thấp. Muốn làm được điều này chúng ta phải chú ý phát triển toàn chuỗi sản xuất; giúp người dân tiếp cận được nhiều hơn các thông tin thị trường, biết được nên sản xuất như thế nào để đáp ứng được nhu cầu.

Chúng ta cũng cần thường xuyên thực hiện việc xúc tiến quảng bá các thế mạnh của thủy sản Việt Nam ở các thị trường truyền thống nhằm tăng sản lượng xuất khẩu, đồng thời nhắm đến các thị trường tiềm năng và thị trường mà chúng ta có thể tiếp cận.

Giá trị gia tăng trong chế biến cũng là một điều cần quan tâm. Xu hướng cạnh tranh trên thị trường ngày càng quyết liệt, sản lượng thủy sản của nhiều nước cũng tăng qua các năm, do đó cần chú ý đến chế biến, tạo giá trị gia tăng, tạo khác biệt để không bị thụt lùi.

Ông có thể chia sẻ điều gì với các doanh nghiệp Việt đang hoạt động trong ngành xuất khẩu thủy sản?

- Làm trong ngành thủy sản, đặc biệt là trong xu thế hội nhập hiện nay, điều phải được quan tâm hàng đầu là chất lượng, nhất là vệ sinh an toàn thực phẩm. Điều này quyết định lớn đến sự tồn tại của doanh nghiệp.

Bản thân doanh nghiệp cũng cần tự chủ về nguồn vốn và nên tìm hiểu rõ về đối tác, cũng như thông tin của thị trường nhập khẩu thông qua các nguồn đáng tin cậy từ Chính phủ, từ chính đối tác là nhà nhập khẩu. Vấn đề này cần đến kỹ năng, mối quan hệ, chuyên môn và kinh nghiệm của bản thân doanh nghiệp. Điều cốt lõi là phải làm sao không trái với luật pháp và không gây ảnh hưởng đến uy tín của ngành thủy sản Việt Nam.

Xin cảm ơn ông!

NGỌC PHƯƠNG thực hiện

;
.
.
.
.